Tiểu sử nhân vật: Nagato (Pain) là ai?

Giới thiệu nhân vật

Nagato (長門) là một shinobi của Làng Mưa và hậu duệ của tộc Uzumaki. Anh đã thành lập Akatsuki với các bạn mình là Yahiko và Konan (cũng đều là trẻ mồ côi sau chiến tranh) với mong muốn đem lại hòa bình cho thế giới nhẫn giả đầy bạo động.

Tuy nhiên, sau cái chết của Yahiko, Nagato lấy bí danh là Pain và cùng Konan lãnh đạo Akatsuki sang hướng mới, trở thành một tổ chức sẽ buộc thế giới phải trở nên hòa bình bằng mọi giá.

Tính cách nhân vật

Nagato ngày nhỏ là một cậu bé nhạy cảm, tử tế và mau nước mắt trước nỗi đau của bản thân và người khác. Cậu đã cố gắng sửa tật mít ướt của mình mà không được, dù biết rằng khóc lóc chẳng giúp thay đổi được gì.

Sau này, Jiraiya đã nói với Nagato rằng sự nhạy cảm của cậu thực ra là một điểm tốt, bởi nó giúp Nagato hiểu thế nào là đau khổ và vì thế biết đối xử tốt với mọi người. Điều này đã giúp Nagato tỉnh ngộ và cậu nhận ra mình sẵn sàng nhận lấy toàn bộ nỗi đau của bạn bè để họ không phải chịu đau đớn.

Cũng từ đó mà cậu bỏ được tật mít ướt; khi Jiraiya bỏ đi chính Yahiko mới là người bật khóc, trong khi Nagato chỉ cảm ơn ơn dạy bảo của ân sư.

Nagato đặc biệt rất coi trọng những người bạn thuở ấu thơ. Anh tự nhận mình phải thừa kế ý chí của Yahiko là thay đổi thế giới và giữ xác của cậu làm bản thể cho Thiên Đạo mạnh nhất của mình. Konan – bạn thuở nhỏ kiêm cộng sự của Nagato – là cánh tay phải thân tín nhất của anh.

Cô là người luôn luôn ủng hộ Nagato và ngược lại anh cũng rất quan tâm đến cô. Cô là một trong số ít người có thể phần nào thay đổi hay tác động đến các quyết định của anh.

Bằng cách này hay cách khác thì suốt cuộc đời mình, Nagato đã luôn đặt lợi ích của người khác lên trên mong muốn cá nhân:  động lực chính khiến anh trở thành ninja là để bảo vệ Yahiko và Konan; anh coi mình như món vũ khí tối thượng có thể giúp Yahiko đem lại hòa bình cho đất nước của họ.

Khi trở thành thủ lĩnh của Akatsuki (sau này), anh cảm thấy mình có trách nhiệm phải cứu lấy thế giới khỏi chính nó, quyết định gây ra đau thương cùng cực khiến không ai muốn làm hại người khác nữa.

Lớn lên trong chiến tranh, Nagato không thích sự chết chóc và cảm thấy ghê sợ khi phải xuống tay với ngay cả những kẻ đã làm hại bạn bè và gia đình mình. Anh ủng hộ Akatsuki của Yahiko vì mục tiêu của tổ chức lúc bấy giờ là kết thúc chiến tranh và đổ máu.

Tư tưởng của Nagato đã thay đổi từ sau cái chết của Yahiko. Nay anh sẵn sàng hy sinh mạng sống của vài người hay vài trăm người nếu chúng phục vụ lợi ích lâu dài của nhân loại. Tuy nhiên, Nagato vẫn giữ cho mình một sự phân định rạch ròi.

Anh nhân từ với những người sẵn sàng hợp tác và khuyên những kẻ chống đối không nên ngáng đường mình nếu không muốn chết. Namikaze Minato tin rằng ở một thời điểm nào đó, Nagato đã trở nên lầm đường lạc lối và bị Tobi thao túng.

Khi trở thành thủ lĩnh của Akatsuki, Nagato khoác lên mình vẻ ngoài đầy cuốn hút của Thiên Đạo để ngay cả các thành viên của Akatsuki cũng phải e sợ. Dẫu sở hữu sức mạnh vượt trội và tự tôn là thánh thần, song Nagato cũng rất kiên nhẫn trước sự chống đối ngay trong nội bộ, tỉ dụ như anh coi những lời đe dọa công khai của Hidan chỉ như lời của một đứa trẻ cần được dạy dỗ.

Nagato cực kì tự tin vào năng lực của bản thân và không ngần ngại giao chiến với cả những đối thủ mạnh nhất, kể cả với các thành viên của Akatsuki nếu cần.

Tuy cuộc đời đã trải qua nhiều biến động, Nagato về bản chất vẫn luôn tốt bụng và kính trọng người khác. Với các thành viên cùng trong Akatsuki, anh tiếc thương cho những người đã ngã xuống vì mục tiêu của tổ chức và không cho phép nội bộ được gọi thẳng tên nhau một cách suồng sã.

Anh tỏ ra lịch thiệp với cả kẻ thù, cảm thấy vinh dự khi được đối diện với một ninja mạnh như Hatake Kakashi, đồng thời cũng quyết tâm phải giết chết Kakashi vì sức mạnh ấy chắc chắn sẽ cản trở các bước tiến của Akatsuki.

Dẫu tỏ ra thần thánh trước mặt kẻ thù, tự Nagato cũng biết rằng mình chỉ là một gã đàn ông bình thường đang giành lấy hòa bình bằng mọi cách tốt nhất có thể. Nhưng mỗi khi lý tưởng của anh bị phản bác, Nagato sẽ hỏi vặn lại đối phương về cách giải quyết những vấn đề nhức nhối trên thế giới trước khi tỏ ra thất vọng một cách hiển nhiên với câu trả lời nhận được.

Nagato sẵn sàng giết chết bất cứ ai ở Làng Mưa dám nghi ngờ những lý tưởng của mình, thẳng tay hạ sát thân quyến, họ hàng và bạn bè của Hanzō, ngay đến cả trẻ sơ sinh cũng không tha.

Nagato có một số thành kiến nhất định với Làng Lá, bởi ninja của làng phần nào chịu trách nhiệm cho những bi kịch xảy đến với anh. Anh đã cố thay đổi suy nghĩ trước những tác động tích cực của Jiraiya, nhưng rồi đi đến quyết định mọi vinh quang của Làng Lá đều là đạp trên nỗi bất hạnh của người khác mà có được.

Nagato sau đó đã thuyết phục được Nagato trở về là con người yêu chuộng hòa bình xưa kia. Nagato quyết định tin vào câu trả lời của Naruto về hòa bình và lấy lại niềm tin với Jiraiya. Sau khi được chuyển sinh, anh trở nên thân thiện và thoải mái hơn nhiều với Naruto, thậm chí anh còn đùa và tán dương cậu.

Trước khi bị phong ấn, Nagato nói mình đã không còn coi bản thân như một vị thánh nữa mà chỉ như tập giữa dở tệ của một bộ tiểu thuyết bộ 3 bắt đầu bởi Jiraiya và kết thúc với Naruto.

Ngoại hình nhân vật

Nagato sở hữu làn da trắng nhợt nhạt và mái tóc thẳng màu đỏ. Hồi nhỏ, anh thường dùng tóc che Rinnegan ở mắt. Sau khi trở thành ninja, Nagato vuốt tóc sang một bên chỉ để lộ con mắt bên trái. Khi đến tuổi trưởng thành, anh đã tự nối mình với Ngoại Đạo Ma Tượng, khiến cơ thể trở nên gầy gò với rất nhiều cọc thu nhận chakra trên lưng.

Anh buộc phải sử dụng một cỗ máy giúp mình di chuyển và điều khiển Lục Đạo của Pain. Bản thân anh không mặc trang phục đặc trưng của Akatsuki mà để bản thể các Đạo mặc.

Sau khi thi triển Ngoại đạo: Luân Hồi Thiên Sinh Thuật, mái tóc của anh đã ngả sang màu bạc do tác dụng phụ của thuật và giữ nguyên đến khi anh được chuyển sinh, khi đó Nagato mặc thêm một chiếc áo choàng dài tay màu đỏ đất. Sau khi nhận được chakra Bát Vĩ, tóc của anh hóa đỏ trở lại, cơ thể không còn gầy gò như trước và có thể tự do di chuyển.

Sức mạnh và Năng lực

Nagato xứng đáng là thủ lĩnh của Akatsuki khi là thành viên mạnh nhất tổ chức. Dẫu thể trạng có phần yếu ớt, song Yakushi Kabuto nói Nagato là shinobi chuyển sinh mạnh thứ hai của mình, chỉ kém Uchiha Madara.

Sau khi được hồi sức với chakra Bát Vĩ, anh đã khống chế đồng thời chủ thể của Bát Vĩ và Cửu Vĩ một cách dễ dàng. Naruto và Itachi phải phối hợp với Killer B thì mới hóa giải được chiêu thức mạnh nhất của Nagato và nhân cơ hội đó đánh bại, phong ấn anh.

Khi là Pain, Nagato được nhiều người đánh giá là bất bại, với sức mạnh đủ để giết Hanzō, trong khi cả 3 Sannin hợp lại cũng không thể giết được ông ta. Trước khi đấu với Naruto, Nagato chưa từng để thua bất cứ ai.

Chakra & Sức Mạnh Vật Lý

Hậu duệ của tộc Uzumaki như Nagato ngay từ khi sinh ra đã có chakra khá mạnh. Trữ lượng chakra thực tế của Nagato cực kì lớn, cho phép anh thực hiện hàng loạt các kĩ thuật ngốn nhiều chakra trong cùng một ngày. Uy lực của đòn tấn công cũng được củng cố nhớ Rinnegan (Luân Hồi Nhãn).

Nagato cũng rất giỏi điều khiển chakra và có thể thay đổi tính chất chakra để ninja cảm ứng không thể phát hiện ra anh.

Chân của Nagato đã bị hư hỏng sau lần đầu giao chiến với Hanzō, khiến anh đi lại khó khăn suốt phần đời còn lại. Cơ thể thật của Nagato cũng vì thế mà gần như không có sức phản kháng.  Anh đã phần nào đi lại được sau khi được chuyển sinh và nhận lấy một phần chakra của Bát Vĩ.

Khi không còn bị tật nguyền, Nagato có thể nhanh chóng di chuyển xung quanh chiến địa, thu hẹp khoảng cách giữa mình và đối thủ khiến chúng phải thoái lui.

Nhẫn thuật

Trong thời gian theo học Jiraiya, Nagato đã lĩnh hội được tất cả các kĩ thuật và lối chiến đấu mà ông dạy, làm chủ cả năm hệ chakra tự nhiên cơ bản và Âm Độn khi chỉ mới 10 tuổi. Anh đã sử dụng hàng loạt nhẫn thuật để xúc tiến các cuộc họp của Akatsuki, ví như thuật cho phép các thành viên thảo luận với nhau từ xa, bảo vệ địa điểm họp mặt và đánh lạc hướng các phe đối địch.

Nagato đã sử dụng Vũ Hổ Tự Tại Thuật để tạo mưa giám sát tất cả mọi hoạt động ở Làng Mưa. Anh còn là một ninja cảm biến giỏi, có thể chỉ ra chính xác vị trí của kẻ địch từ khoảng cách rất xa, ngay cả khi y đứng trong những vòng tròn bảo vệ chống cảm biến.

Rinnegan

Khả năng sử dụng đa dạng nhiều loại nhẫn thuật của Nagato phần lớn là nhờ có Rinnegan. Dẫu vốn không phải là chủ nhân của đôi mắt này, song dòng máu của tộc Uzumaki chảy trong huyết quản đã giúp anh có thể sở hữu cả hai Rinnegan mà không gặp phải tác dụng phụ nào. Madara thậm chí đã ví Nagato như “Lục Đạo thứ 3”.

Ưu điểm lớn nhất của Rinnegan là nó cho phép Nagato sử dụng tất cả chiêu thức của Lục Đạo: sức mạnh trọng lực của Thiên Đạo, khả năng triệu hồi yêu quái của Súc Sinh Đạo, khả năng hấp thụ chakra không giới hạn của Ngạ Quỷ Đạo, quyền kiểm soát linh hồn của Nhân Đạo, khả năng biến ra hàng loạt vũ khí của Atula Đạo và khả năng tiếp cận Diêm Vương qua Địa Ngục Đạo.

Ngay khi kẻ thù xuất hiện, Nagato có thể dễ dàng chuyển đổi giữa các Đạo và thi triển những chiêu thức mà bình thường anh không thể thi triển bằng cơ thể thật (do giới hạn của cơ thể).

Lục Đạo của Pain

Bản thân Pain chính là đạo thứ 7, hay “Ngoại Đạo”, anh có thể triệu hồi và điều khiển Ngoại Đạo Ma Tượng, tạo ra những cột tiếp nhận chakra màu đen để truyền chakra hay sử dụng Luân Hồi Thiên Sinh Thuật để hồi sinh người chết.

Với Lục Đạo của Pain, bằng cách đâm những cột tiếp nhận chakra xuyên qua cơ thể của 6 xác chết – bố trí để trông như chúng xỏ khuyên – Nagato có thể điều khiển cả sáu cái xác từ một khoảng cách rất xa như thể đó chính là cơ thể của mình. Với các kĩ thuật đặc biệt đòi hỏi nhiều chakra thì Nagato sẽ cần phải di chuyển (xác) Đạo đó lại gần vị trí của mình; hoặc ngắt quyền điều khiển 5 Đạo còn lại và tập trung toàn bộ chakra vào một Đạo duy nhất.

Lục Đạo có thể phản ứng trước các mối họa trong tích tắc và vì là xác chết, chúng hoàn toàn không cảm thấy nỗi đau thể xác.

Trên lý thuyết, mỗi Đạo của Pain đều có thể thi triển bất cứ tuyệt chiêu nào mà Nagato có thể thực hiện. Tuy nhiên trong thực tiễn, Nagato chỉ sử dụng mỗi Đạo cho một cái xác, ngoại trừ Thiên Đạo với hàng loạt các nhẫn thuật khác nhau.

Mỗi Đạo lại có một vai trò khác nhau: tấn công, phòng thủ, do thám hay sửa chữa. Không có Đạo nào của Pain thiên về thể thuật, nhưng hết thảy đều có thể đánh tay đôi ngang cơ với những đối thủ lão luyện. Dẫu Nagato coi Lục Đạo như một phần danh tính của Pain, anh vẫn coi chúng như những cá thể tách biệt với mình, chỉ gọi chúng bằng tên Đạo tương ứng.

Mỗi Đạo của Pain đều rất mạnh, nhưng chúng khó nhằn nhất là khi phối hợp với nhau. Khả năng điều khiển cùng lúc cả 6 Đạo mới là nguyên nhân chính khiến Pain bất khả chiến bại. Cả 6 Đạo sẽ chia sẻ tầm nhìn với Nagato, cho phép anh phối hợp chuyển động của chúng một cách hiệu quả.

Chúng có thể tấn công từ nhiều góc khác nhau và né đòn ngay cả khi bản thân không nhìn thấy nhưng chiêu thức đó lại nằm trong tầm nhìn của Nagato.

Khi tấn công Làng Lá, Nagato đã phân tán các Đạo tùy theo mục đích và vị trí chiến lược,  chúng đã tàn phá của cải và hạ sát nhiều shinobi mạnh, cho phép Nagato gần như một tay thâu tóm Làng Lá. Mỗi Đạo lại có tầm quan trọng nhất định trong trận đấu – Địa Ngục Đạo có thể phục hồi các Đạo khác nên quan trọng nhất – và do đó, Nagato sẵn sàng hi sinh các Đạo thấp để bảo vệ những xác Đạo cấp cao hơn.

Mặc dù Lục Đạo giúp Nagato giành được lợi thế trên chiến trường, nhưng anh luôn hạn chế số lượng Đạo được sử dụng để tránh có kẻ phát hiện ra bí mật của Lục Đạo Pain. Khi Làng Lá bắt đầu nhận ra các nguyên tắc của năng lực này, Nagato đã tiêu diệt cả thôn làng để diệt khẩu bất cứ ai có khả năng biết cả 6 Đạo đó đều không phải cơ thể thực của mình.

Tiểu sử nhân vật: Ōtsutsuki Hagoromo – Lục Đạo Tiên Nhân là ai?

Giới thiệu nhân vật

Lục Đạo Tiên Nhân Ōtsutsuki Hagoromo là một nhân vật lỗi lạc, người khai sinh ra Ninshū (Nhẫn Giáo), chính là tiền đề cho sự ra đời của nhẫn giả sau này. Ông là con trai cả của công chúa Ōtsutsuki‎‎ Kaguya. Ông và người em sinh đôi Hamura là hai người đầu tiên được sinh ra với dòng chakra quyền năng như mẹ mình.

Họ đã cùng nhau đánh bại mẫu thân khi bà hóa thành con Thập Vĩ đáng sợ và phong ấn sức mạnh của nó vào chính ông, tức Hagoromo cũng chính là chủ thể vĩ thú đầu tiên.

Tính cách nhân vật

Hagoromo theo đuổi hòa bình bằng cách truyền bá những hiểu biết của ông đi khắp thế giới. Ông cực kì uyên bác và đã góp phần thay đổi thế giới khi phổ biến các nguyên lý của chakra và Nhẫn Giáo. Ông có vẻ rất quan tâm tới các vĩ thú khi chúng còn ở trong người ông.

Hagoromo đặt tên cho từng vĩ thú vì chúng là những cá thể riêng biệt và dặn chúng phải luôn sát cánh bên nhau, ngay cả khi chia lìa, và rồi mỗi vĩ thú sẽ tìm được con đường đúng đắn dành cho mình. Đám vĩ thú cũng rất tôn trọng và ngưỡng mộ vị tiên nhân. Kurama thậm chí còn rơi lệ khi nghĩ đến việc ông sắp sửa qua đời.

Mong muốn theo đuổi hòa bình của Hagoromo mạnh liệt tới mức sau khi biết được những việc làm phi nhân tính của Kaguya, bao gồm cả cái chết của người ông yêu thương là Haori, Hagoromo không để sự tức giận và nỗi đau làm cho mờ mắt, kể cả khi Sharingan của ông đã được thức tỉnh.

Thay vào đó, ông muốn giải quyết mọi chuyện bằng lời nói thay vì vũ lực. Hơn nữa tuy phải đấu với mẹ mình, song ông vẫn rất yêu và kính trọng Kaguya, luôn gọi bà là “mẫu thân” dù bà đã sa đọa đến mức nào.

Lúc gặp Naruto, Hagoromo luôn tỏ ra kiên nhẫn và bình tĩnh, hoàn toàn không bị tác động trước sự xấc xược của cậu. Là người thông thái ngay từ khi còn trẻ, ông có thể nhìn rõ hành động và tâm can của kẻ khác. Dẫu cách biệt về thời gian và phong tục, ông có thể nhanh chóng tiếp thu ngôn ngữ và văn hóa của thời đại khác, dễ dàng đổi cách nói chuyện và phương ngữ sao cho đối phương dễ hiểu.

Ông cũng rất nghiêm khắc trong việc phân định rạch ròi giữa “ninshū” (tức “nhẫn giáo”) mà ông truyền dạy và “ninjutsu” (nhẫn thuật), nhấn mạnh rằng “ninjutsu” được dùng trong giao chiến, còn “ninshū” thì hướng tới hòa bình.

Ngoài ra, Hagoromo cũng là một người rất khiêm tốn, ông thừa nhận sự thay đổi là không thể tránh khỏi và mỗi người chỉ có thể chuẩn bị tâm lý để đón chờ điều đó. Ông cũng thẳng thắn về những sai sót và nỗi xấu hổ của bản thân khi chưa làm tròn vai trò của một người cha và một người lãnh đạo. Dẫu là người có địa vị cao quý, song ông tin rằng một người không nên có trong tay quá nhiều sức mạnh, vì rất có thể y sẽ sinh kiêu ngạo và càng thèm khát sức mạnh hơn nữa.

Sau khi đánh bại thân mẫu, Hagoromo quyết định hạn chế sử dụng sức mạnh siêu nhiên của mình hết mức có thể, vừa là để giảm thiểu những thiệt hại ông có thể gây ra cho đất đai, vừa là để trở nên gần gũi hơn với người dân. Ông cảm thấy tự hào và thích thú khi có thể hoàn thành công việc theo cách bình thường.

Ngoại hình nhân vật

Hagoromo là một lão ông cao lớn với nước da nhợt nhạt. Mặt ông có nhiều nếp nhăn sâu cùng đường hàm dưới khỏe khoắn. Ông sở hữu mái tóc tỉa nhọn màu nâu nhạt, dài đến vai và tết một bên tóc mai dài đến cằm ở trước tai trái. Hagoromo cũng để một chòm râu dê ngắn khi còn trẻ và dần dà nó đã dài tới tận cổ tay ông khi về già.

Như trong anime thì ông không có đồng tử. Ông có một biểu tượng tròn màu đỏ nom giống như Rinnegan ở giữa hai chiếc sừng trên trán; trong anime, nó đã xuất hiện khi ông lần đầu thức tỉnh Mangekyō Sharingan và Rinnegan.

Hagoromo bận chiếc áo kimono dài màu trắng, có sáu họa tiết magatama màu đen xung quang phần cổ cao, bên dưới là một sợi dây chuyền cũng có mặt đá với họa tiết giống hệt. Phía sau lưng áo kimono là một biểu tượng Rinnegan lớn màu đen, với chín họa tiết magatama xếp thành hàng ba ngay dưới nó.

Sức mạnh và khả năng

Mặc dù không có mấy thông tin về toàn bộ sức mạnh mà Hagoromo sở hữu, ông được thiên hạ công nhận là người mạnh nhất trong lịch sử, chỉ kém sau công chúa Kaguya và đã cùng em trai đánh bại và phong ấn Thập Vĩ. Haruma thừa nhận Hagoromo còn mạnh hơn cả mình. Hagoromo dần được suy tôn như một vị thánh sau khi ông trở thành chủ thể vĩ thú đầu tiên trên thế giới.

Ông là người đầu tiên tự mình ngộ ra chân lý của chakra. Với hiểu biết uyên thâm và Huyết kế giới hạn, ông đã ngộ ra dạng nguyên thủy của nhẫn thuật là Ninshū. Hagoromo thu hút được rất nhiều tín đồ, họ từ khắp nơi trên thế giới đổ xô đến xin được ông thọ giáo. Sức mạnh khủng khiếp của ông thậm chí đã du hành vượt thời gian (dưới dạng chakra), cho phép ông dù đã qua đời từ rất lâu vẫn có thể quan sát thế giới và gặp gỡ các thế hệ sau.

Chakra & Sức Mạnh Vật Lý

Là con trai của Kaguya, Hagoromo sinh ra đã được ban cho sức mạnh vô song và lượng chakra dồi dào sánh ngang với mẫu thân. Ông có năng khiếu thiên bẩm có thể điều khiển chakra một cách chính xác dù trước đó chưa từng được huấn luyện. Ông dư sức thi triển thuật mà không cần kết ấn và đặc biệt linh hoạt trong cách sử dụng chakra.

Nghe đồn sức mạnh của Hagoromo còn liên quan tới Âm-Dương Độn. Dù gen của vị hiền nhân đã bị loãng dần qua nhiều thập kỷ và thế hệ, song các hậu duệ xa của ông như Kinkaku và Ginkaku vẫn có được sức mạnh sánh ngang chủ thể vĩ thú bằng cách ăn thịt Kurama sau khi bị nó nuốt mà không chết. Hagoromo cũng rất giỏi đấu tay đôi. Ông dễ dàng chống đỡ những đòn tấn công của Haruma đang bị tẩy não hoặc nhổ bật những thân cây lớn.

Ninshū

Là một người thông thái và đầy quyền năng, Hagoromo đã sáng tạo ra Ninshū để đem lại hòa bình cho thế giới đầy rẫy chiến tranh. Ông truyền chakra cho môn đồ và dạy họ cách sử dụng năng lượng tự nhiên để kết nối với người khác, giúp hai bên thấu hiểu lẫn nhau.

Ông còn sử dụng chakra để chữa lành hầu như bách bệnh. Ông những muốn dùng sức mạnh này để kết nối và hòa hợp mọi người, nhưng sau khi ông qua đời, con người đã bắt đầu sử dụng nguồn sức mạnh mới cho mục đích chiến tranh và ngày càng chia rẽ, biến Ninshū trở thành các nhẫn thuật như bây giờ.

Biến đổi thuộc tính

Với Rinnegan, Hagoromo trở thành người đầu tiên lĩnh hội cả 5 biến đổi thuộc tính cơ bản. Trong anime, ông đã dùng Lôi Độn để đập vỡ một tảng đá khổng lồ và tạo ra một thanh kiếm sét để khống chế Haruma, giúp em trai thoát khỏi sự điều khiển của Kaguya, hay thi triển Phong Độn phá vỡ lớp kén của Thần Mộc.

Ông cũng có được sức mạnh của Âm-Dương Độn và có thể kết hợp chakra Âm (năng lượng tinh thần) và chakra Dương (năng lực vật lý) để tạo ra các sinh vật từ hư không chỉ bằng trí tưởng tượng, ví như tạo ra những vĩ thú khác từ chakra của Thập Vĩ.

Fūinjutsu (thuật Phong Ấn)

Để chuẩn bị hợp lực với Haruma đấu lại mẫu thân, Hagoromo đã luyện tập thuật phong ấn và đạt đến trình độ thượng thừa. Ông trước tiên đã có thể phong ấn Vĩ Thú vào chính cơ thể mình, rồi lại phong ấn nó sang nơi khác trước khi qua đời.

Ngay cả khi hấp hối, ông vẫn thi triển được Chikabu Tensei (Địa Bộc Thiên Tinh) và dùng chakra tạo ra mặt trăng phong ấn cơ thể của Thập Vĩ, một minh chứng rõ ràng cho sức mạnh khủng khiếp của ông. Hagoromo cũng có thể dùng ấn để truyền một phần sức mạnh của mình sang cho người khác.

Dōjutsu (Nhãn thuật)

Sharingan (Tà Luân Nhãn)

Trong anime, Sharingan của Hagoromo thức tỉnh sau khi ông tìm thấy xác của Haori. Cũng giống như các hậu huệ của mình (tộc Uchiha), tri giác của ông trở nên tốt hơn, có thể nhìn thấu những chiến thuật của địch để dễ dàng chống đỡ. Ông là người duy nhất có Sharingan hoàn thiện (với 3 dấu tomoe*) ở cả hai mắt ngay từ lần đầu năng lực thức tỉnh và có thể duy trì Sharingan vô thời hạn mà không gặp khó khăn gì.

*tomoe: một loại ký hiệu cổ xưa và rất phổ biến ở Nhật Bản, có hình gần giống dấu phẩy

Mangekyō Sharingan

Trong anime, khi biết mình không thể ngăn Hiruma (đang bị tẩy não) tiếp tục tấn công, Hagoromo đã buộc phải đánh em trọng thương và vô tình đánh thức Mangekyō Sharingan. Nhanh chóng lĩnh hội năng lực mới ngay trong cuộc chiến, Hagoromo đã triệu hồi Susanoo dạng toàn chân thể và tỏ ra ngang tài ngang sức với dạng vĩ thú của Kagura, thậm chí có thể phản đòn Vĩ Thú Ngọc của Thập Vĩ.

Với sự thức tỉnh đồng thời của Rinnegan, Hagoromo thừa sức sử dụng cùng lúc cả Sharingan và Rinnegan mà không phải chịu bất cứ ảnh hưởng phụ nào như căng cơ hay suy giảm thị lực.

Rinnegan (Luân Hồi Nhãn)

Trong anime, ông thức tỉnh Rinnegan và Mangekyō Sharingan cùng một lúc. Ông được cho là người duy nhất hoàn toàn lĩnh ngộ được Rinnegan và qua đó học được cách điều khiển cả 5 loại chakra tự nhiên. Cũng là một người sở hữu Rinnegan, Nagato thừa nhận Rinnegan của mình chẳng là gì so với Hagoromo.

Rinnegan cho phép ông sử dụng tất cả các kĩ thuật của Lục Đạo. Với Ngoại Đạo, ông có thể triệu hồi các linh hồn từ cõi âm và hóa giải thuật chuyển sinh của người khác, giải phóng linh hồn khỏi các chủ thể và đưa họ quay trở về cõi vĩnh hằng.

Senjutsu (Hiền Nhân Thuật)

Với trữ lượng chakra dồi dào kế thừa từ mẹ, Hagoromo rất phù hợp để học thêm hiền nhân thuật nhằm nâng cao sức mạnh. Trong anime, cóc Gamamaru đã dạy cho ông senjutsu trên Núi Myōboku. Ông đã khiến Gamamaru ngạc nhiên với khả năng nhìn thấy Năng Lượng Tự Nhiên trước cả khi bắt đầu tập luyện trạng thái Hiền Nhân (Sage) và nhanh chóng thành thục Sage trong một khoảng thời gian cực ngắn.

Với nguồn chakra tràn đầy và Rinnegan, Hagoromo dư sức tạo ra Rikudō Senjutsu  (Lục Đạo Thần Thuật) và có thể dùng nó để tự do bay hay lơ lửng trên không trung.

Cầu Đạo Ngọc

Hagoromo có thể cùng lúc tạo ra 10 Cầu Đạo Ngọc bằng cách dung hợp 5 biến đổi thuộc tính cơ bản, Âm-Dương Độn và chakra Lục Đạo Tiên Nhân. Ông thường biến đổi hình dạng của một viên trong số đó thành một cây tích trượng hai đầu.

Một đầu là vòng tròn có gắn những vòng tròn nhỏ hơn, đầu còn lại thì nom tựa trăng khuyết; chúng lần lượt đại diện cho mặt trời và mặt trăng. Ông còn tạo ra Thần Kiếm Nunoboko và nghe đồn Hagoromo đã dùng nó kiến tạo nên thế giới.

Bukijutsu (Sử dụng Vũ khí)

Hagoromo được nhìn thấy mang theo bên 2 loại vũ khí, gồm một cây katana và một cái Tích trượng, và khả năng cao là ông rất giỏi kiếm thuật và có thể sử dụng cả hai thứ một cách thuần thục trong chiến đấu.

Bảo Vật

Hagoromo sử dụng những công cụ đặc biệt mà sau này đã được xem như Bảo Vật của Lục Đạo Tiên Nhân. Mỗi món đều có công dụng đặc biệt và rất mạnh. Năm món bảo vật bao gồm Bashōsen (Ba Tiêu Phiến), Benihisago (Huyết Hồ Lô), Kōkinjō (Bạch Lãm), Shichiseiken (Thất Tinh Kiếm) và Kohaku no Jōhei (Hổ Phách Tịnh Bình).

Khi kết hợp Huyết Hồ Lô, Bach Lãm và Thất Tinh Kiếm, Hagoromo có thể bắt giữ linh hồn của nạn nhân và hút chúng vào trong bình phong ấn. Với Ba Tiêu Phiến, ông có thể tạo ra bất cứ nhân tố nào trong 5 nhân tố tự nhiên.

Hổ Phách Tịnh Bình cho phép ông phong ấn đối thủ ngay tức khắc mà không cần phải qua nhiều bước như Huyết Hồ Lô. Cả 5 bảo vật này đều đòi hỏi lượng chakra rất lớn, thậm chí chúng có thể giết chết một người bình thường do kiệt sức, mặc dù với người có lượng chakra dồi dào như Hagoromo thì không thành vấn đề.

Tiểu sử nhân vật: Gaara là ai?

Giới thiệu nhân vật

Gaara (我愛羅) là một ninja Làng Cát. Cậu là con út của Kazekage Đệ Tứ và là em trai của Temari và Kankuro. Cậu đã bị biến thành chủ thể của Nhất Vĩ Shukaku trước khi được sinh ra, khiến dân chúng Làng Cát e sợ cậu như quái vật. Lớn lên trong cô độc và không được ai thấu hiểu, Gaara đâm ra thù hận thế giới này và chỉ biết tới chính mình, tìm thấy lý do tồn tại của bản thân khi sát hại bất cứ ai ngáng đường.

Sau khi thất bại trước Uzumaki Naruto– cũng là một chủ thể như Gaara, nhưng cậu ta đã được tiếp thêm sức mạnh từ tình bạn – Gaara đã noi theo gương của Naruto. Thời gian thấm thoát qua đi, Gaara trở thành Kazekage Đệ Ngũ để có thể bảo vệ thôn làng và hóa giải sự sợ hãi mà trước đây cậu đã gây nên cho dân chúng.

Tính cách nhân vật

Gaara ngày bé là một đứa trẻ dè dặt và dịu dàng. Dẫu hầu hết cư dân Làng Cát đều e sợ và khinh thường cậu, Gaara vẫn thấy ổn khi nhận được sự quan tâm từ Yashamaru và mẫu thân. Tuy nhiên, Rasa, cha của cậu, đã tách cả hai người khỏi Gaara vì nghĩ rằng sự tử tế của họ đang kìm hãm sự phát triển của cậu trong vai trò là một chủ thể.

Ông ta ra lệnh cho Yashamaru giết chết Gaara và nếu thất bại thì nói với Gaara rằng cả mình lẫn mẹ cậu chưa bao giờ yêu cậu. Kế hoạch của Rasa đã thành công, bởi Gaara đã khóa chặt trái tim mình từ sau cái chết của Yashamaru. Cậu trở nên ích kỉ, chỉ biết tới mong muốn và sự an nguy của bản thân.

Trong những năm tháng đen tối đó, Gaara dù bề ngoài luôn tỏ ra lãnh đạm, song nội tâm lại rất bất ổn. Cậu thờ ơ trước những lời van xin của người khác và nhiều lúc còn bị cơn cuồng sát chi phối.

Hành động này của cậu một phần là do những lời xúi giục của Shukaku luôn văng vẳng bên tai Gaara. Nó xúi cậu động thủ bất cứ khi nào có thể và tra tấn Gaara bằng cách đe dọa sẽ kiểm soát cơ thể cậu trong lúc cậu ngủ, khiến Gaara mất ngủ từ đó.

Tuy nhiên, lỗi không hoàn toàn thuộc về Shukaku, bản thân Gaara cũng căm thù sự tồn tại của người khác, tin rằng chừng nào còn sống họ sẽ đe dọa tính mạng của cậu. Mục tiêu của Gaara là giết chết tất cả những kẻ mạnh hay những cá nhân mà cậu thấy giống mình, bởi chỉ có cách đó mới khiến cậu thêm an tâm về sự tồn tại của bản thân.

Còn với những kẻ không đáng lưu tâm, Gaara thường sẽ rút về một góc và giữ im lặng. Kể cả khi phải tương tác với người khác, cậu cũng hoàn toàn không quan tâm đến cảm xúc của người đối diện và thường đe dọa sẽ giết chết họ, kể cả anh chị ruột của mình, nếu họ trở nên quá phiền phức.

Tiểu sử của Gaara cũng rất giống với Naruto: cả hai đều là chủ thể của vĩ thú ngay từ khi sinh ra, họ đều bị dân làng mình ghét bỏ và lớn lên mà không có được tình yêu thương của cha mẹ. Nhưng trong khi Gaara đánh mất niềm tin vào người khác, Naruto tiếp tục phấn đấu để được bạn bè và thôn làng công nhận và cuối cùng đã thành công.

Trong khi Gaara tìm kiếm sức mạnh để bảo vệ chính mình thì Naruto muốn mạnh hơn để bảo vệ những người bạn quý giá mà cậu mãi mới có được. Khi Naruto đánh bại Gaara trong cuộc tiến công vào Làng Lá, Gaara xem đây như bằng chứng cho thấy mình trước giờ đã đưa ra những lựa chọn sai lầm; rằng bản thân đã đầu hàng nghịch cảnh quá dễ dàng.

Kể từ đó trở đi, Gaara bắt đầu học theo Naruto, cậu cải thiện mối quan hệ với các anh chị, kết bạn với người trong và ngoài Làng Cát, và tìm kiếm thứ gì đó cậu sẵn sàng bỏ mạng để bảo vệ. Mối quan hệ của cậu với Shukaku cũng được cải thiện phần nào. Cậu thừa nhận mình từng rất căm ghét nó, song cũng nhờ Shukaku mà cậu đã gặp được Naruto.

Gaara trở thành Kazekage của Làng Cát vào đầu phần II. Trong vai trò mới, Gaara tỏ ra tinh tường hơn hầu hết bạn bè cùng trang lứa. Cậu tha thứ cho người cha đã cố ám sát mình vì ông chỉ đang cố bảo vệ thôn làng mà thôi.

Mục đích sống mới của cậu là toàn tâm toàn ý phục vụ Làng Cát và những cư dân trong làng. Cậu hy vọng Ngũ đại Kage và các làng ẩn có thể tiến tới một mối hợp tác đa bên có lợi, cũng giống như ảnh hưởng tốt mà cậu đã nhận được từ Naruto.

Mới đầu chỉ có Làng Lá là ủng hộ quan điểm của cậu, nhưng sang tới Đại chiến Nhẫn giả lần thứ IV, Ngũ đại Kage đã bị cậu thuyết phục, tạo bước đệm cho sự hình thành của Liên Minh Nhẫn Giả.

Gaara cảm thấy mình mắc nợ Naruto một món ân tình lớn, nhờ có Naruto mà cậu đã thay đổi rất nhiều kể từ sau giai đoạn khét tiếng là “Gaara của Làng Cát”. Cậu coi Naruto như người bạn thân nhất của mình và tin rằng mọi bất hạnh mà cậu đã phải trải qua là hoàn toàn xứng đáng, vì nhớ chúng cậu mới gặp được Naruto. Cậu tham gia Đại chiến thứ IV không đơn thuần chỉ là để ngăn chặn Akatsuki, mà còn để bảo vệ Naruto.

Gaara thường nhắc lại những trải nghiệm đau thương của mình cho tới khi gặp được Naruto khi tiếp xúc với Sasuke và những cá nhân cũng đang bị đè nặng bởi lòng hận thù và sự cô đơn, hi vọng đối phương cũng có thể nhận ra cái sai của chính họ. Không phải lúc nào cậu cũng thành công thuyết phục được người khác, song cậu có thể cảm thông cho sự lựa chọn của họ.

Ngoại hình nhân vật

Gaara sở hữu làn da trắng, đôi mắt xanh lá cây và mái tóc ngắn màu nâu vàng. Cậu đã để tóc chỉa nhọn trong một thời gian dài, nhưng đến khi trưởng thành thì đã chải nó sang kiểu bổ luống.

Gaara không có đồng tử và lông mày. Quanh mắt cậu có quầng thâm như một con tanuki, mà theo Gamabunta là do chứng mất ngủ. Bên trái trán của Gaara có khắc hán tự của chữ “Ái” (愛, ai) lộ rõ sau phần tóc mai được rẽ sang phải. Trong Phần II, rất nhiều nữ nhân Làng Cát đã khen Gaara đẹp trai.

Trong Phần I, Gaara mặc một bộ đồ đen cổ tròn, cộc tay; với một tấm vải trắng vắt chéo từ vai phải xuống phần hông bên trái. Cậu đeo một tấm đai da to bản từ vai trái sang hông phải để cố định hồ lô cát và buộc luôn băng bảo vệ trán lên đó.

Trong những chương đầu của manga, cậu được nhìn thấy đeo vô số khuyên tai. Ngoại hình của Gaara không có mấy thay đổi cho đến hết Phần I, nhưng cậu có đổi bộ đồ đen thành một bộ áo liền quần màu đỏ nâu, dài tay, cổ đóng kín, với giáp lưới ở cổ tay và cổ chân.

Trong Phần II, Gaara mặc một chiếc áo khoác dài tay màu đỏ, quần dài và xăng đan đen. Bên ngoài áo khoác, cậu bận hai chiếc thắt lưng khóa cài, một chiếc áo vét vòng qua vai trái được cố định bởi một sợi đai, và hai chiếc thắt lưng khác để cố định bình hồ lô.

Trong một số trường hợp, cậu chuyển sang trang phục truyền thống của Kazekage và trong Đại chiến thứ IV, Gaara mặc thêm áo chống đạn đặc trưng của Làng Cát.

Trong The Last: Naruto the Movie, Gaara mặc áo sơ-mi dài tay, nhiều nút màu đỏ sẫm và quần cùng màu. Cậu bận thêm một chiếc thắt lưng màu nâu và hồ lô cát be bé ở phía bên trái. Gaara chuyển sang mặc áo khoác dài khi đến tuổi trưởng thành.

Sức mạnh và Khả năng

Gaara ngay từ nhỏ đã được đào tạo để trở thành “vũ khí tối thượng” của Làng Cát nên cực kì mạnh. Cậu đã dễ dàng giết chết vô số sát thủ được cử đi ám sát mình. Lúc còn là một genin, cậu nổi danh là người có thể hoàn thành cả các nhiệm vụ cấp B.

Cậu cũng là người lập kỉ lục vượt qua Tử Lâm nhanh nhất trong kỳ thi tuyển Chūnin mà không chút xây xát, điều mà ngay cả các chūnin cũng khó thực hiện.

Trong phần II, những Kage khác lúc đầu nghi ngờ khả năng của Gaara do tuổi đời còn trẻ, nhưng họ đã dần nể phục cậu hơn kể từ Đại Chiến lần thứ IV, khi Gaara đóng vai trò là Tổng chỉ huy các sư đoàn tiến công của Liên Minh Nhẫn giả.

Những Kage được chuyển sinh mà Gaara giao đấu, trong đó có cả phụ thân của cậu, đã công nhận tài năng của Gaara sau khi bị cậu đánh bại. Cậu cũng đã đơn thương độc mã cầm chân được 5 phân thân gỗ bọc Susanoo của Madara trong một lúc lâu.

Chakra & Sức mạnh vật lý

Gaara có trữ lượng chakra mạnh rất lớn, một sự thật mà Akamaru đã nhận ra trước cả khi Gaara tung chiêu. Lý do một phần là bởi cậu là chủ thể của Shukaku, nhưng kể cả sau khi mất Shukaku trong Phần II thì sức mạnh của cậu cũng không mấy suy giảm.

Trong chiến đấu, Gaara thường tránh xa đối thủ và hiếm khi dùng thể thuật. Cậu nhận ra đây chính là một khiếm khuyết của mình trong anime và đã tập luyện thêm với Shira. Trong bản tiểu thuyết của Boruto: Naruto the Movie, Ōtsutsuki Kinshiki nhận xét thể thuật của Gaara sánh ngang với những tài năng hàng đầu về thể thuật như Naruto, Sasuke và Darui.

Nhẫn thuật

Gaara thuần thục các chiêu thức liên quan tới Thổ Độn, Lôi Độn và Phong Độ. Về sau cậu đã phối hợp Phong Độn với cát để gia tăng tốc độ cũng như phạm vi ảnh hưởng của chiêu thức.

Trong Hiden, Gaara đã được thừa kế Huyết kế giới hạn Tử Độn từ cha mình, nhưng cậu tránh dùng nó trong chiến đấu mà giấu đi làm phương án bí mật không để đối thủ biết. Cậu có thể dùng Tử Độn để tăng mật độ chakra và cát nhằm tăng sức phòng thủ.

Điều khiển Cát

Là một chủ thể của Làng Cát, Gaara có thể điều khiển cát. Cậu luôn trữ một lượng cát lớn trong chiếc hồ lô (cũng bằng cát) kè kè bên mình. Gaara đã truyền chakra của mình vào chỗ cát này, cho phép cậu gọi chúng ra nhanh hơn và điều khiển chúng với độ chính xác cao.

Mỗi khi cần thêm cát, cậu sẽ dùng cát ở xung quanh hoặc phá vỡ các khoáng vật trong lòng đất để tạo cát. Cậu sẽ cần phải nạp thêm nhiều chakra hơn để điều khiển phần cát vay mượn từ bên ngoài này.

Gaara vẫn có khả năng điều khiển cát sau khi bị mất Shukaku. Kazekage Đệ Tứ khi chứng kiến số lượng cát khổng lồ mà Gaara có thể điều khiển cùng một lúc đã lầm tưởng đây là năng lượng của Shukaku.

Phong cách chiến đấu chính của Gaara là đứng yên tại một điểm và dùng cát tấn công kẻ địch từ xa. Các chiêu thức thường được tung ra theo cùng một công thức: bắt giữ và không cho mục tiêu chuyển động (như với Sa Phược Cữu), rồi nghiền nát cơ thể của y (ví như dùng Sa Bộc Tống Táng).

Nếu đối thủ có thể tiến tới đủ gần để tấn công cậu, Sa Thuẫn của Gaara sẽ tự động bảo vệ cậu trước mọi hiểm nguy, kể cả khi cậu không để ý.

Sa Thuẫn thường bị tưởng nhầm là do Shukaku thi triển để bảo vệ chủ thể, nhưng thực ra đây là chiêu của Karura, mẹ của Gaara, tình yêu của bà đã bảo vệ Gaara sau cả khi bà chết. Nếu ngay cả Sa Thuẫn cũng bị đâm thủng, bằng tốc độ hay sức mạnh vật lý, Gaara vẫn còn được che chắn bởi một lớp Sa Khải (giáp cát).

Tuy nhiên, việc duy trì Sa Khải trong một thời gian dài tốn rất nhiều chakra.

Cát của Gaara giúp cậu có được “lớp phòng thủ tuyệt đối” và cho phép cậu tham chiến suốt bao năm trời mà chưa từng một lần bị thương. Đến khi trưởng thành, khả năng phòng thủ của Sa Thuẫn đã tăng lên đáng kể, có thể chống đỡ được cả những đòn tấn công mà Susanoo của Sasuke không thể.

Cát của Gaara rất ‘dễ bảo’ và có thể được sử dụng cho nhiều mục đích. Nó thường được sử dụng làm công cụ phòng thủ dưới dạng tường cát hoặc khiên cát. Ngoài ra, Gaara cũng có thể tạo ra Sa Thủ Lý Kiếm hay Sa Kiếm.

Cậu còn dùng cát để bay, phát hiện những mục tiêu đang ẩn náu, tạo ra Phân Thân Cát để trợ thủ cho mình hoặc đồng đội và tạo ra Sa Nhẫn để trinh sát. Trong Đại chiến Thứ IV, cậu đã dùng Đại Mạc Hoàng Đẳng Táng, có tác dụng tương tự với thuật trói buộc bằng vải Nunoshibari no Jutsu, để ngăn chặn Mizukage Đệ Nhị mới chuyển sinh.

Biến đổi thành Vĩ thú

Nhất Vĩ Shukaku là một nguồn lực vô giá trong chiến đấu nhưng cũng như mọi vĩ thú khác, để có thể sử dụng nó một cách hiệu quả là cả một quá trình tốn nhiều thời gian và tâm sức của Gaara.

Trong cuộc đối thoại đầu tiên giữa cả hai ngày Gaara còn nhỏ, Shukaku đã dọa sẽ kiểm soát cơ thể cậu và đại khai sát giới khi Gaara đi ngủ, khiến Gaara không một đêm nào ngủ tròn giấc khi còn là chủ thể vĩ thú.

Ngay cả lúc tỉnh giấc, sức mạnh của Shukaku cũng luôn là một hiểm họa, khiến Gaara vô tình giết chết những người xung quanh và trong những khoảnh khắc cùng cực của đau khổ, giải phóng Shukaku tại Làng Cát. Lúc bình thường trong Phần I cậu vẫn có thể kiểm soát được nó.

Như các chủ thể vĩ thú khác, Gaara có thể biến đổi thành vĩ thú của mình. Trong khi các chủ thể khác chỉ dùng chakra để biến đổi thì Gaara lại dùng tới cát: bằng cách phủ cát lên các bộ phận trên cơ thể, cậu biến mình thành một Shukaku thu nhỏ (cỡ con người).

Cơ thể cậu càng biến đổi thì tốc độ và sức mạnh càng tăng. Tuy nhiên, cấp độ biến đổi càng cao thì tâm tính của Shukaku càng ảnh hưởng tới cậu, khiến Gaara càng thêm khát máu. Sang tới Phần II, cậu đã biến đổi thành thạo hơn, ít nhất cũng có thể tạo ra tay của Shukaku mà không gặp sự cố gì.

Ở giai đoạn biến đổi cuối cùng, Gaara đủ sức tạo ra một Shukaku kích cỡ thật và an toàn ẩn mình bên trong, cậu có thể chìm vào giấc ngủ để trao quyền kiểm soát cơ thể cho Shukaku.

Các chỉ số

Databook Nhẫn thuật Thể thuật Ảo thuật Trí tuệ Sức mạnh Tốc độ Sức bền Thủ ấn Tổng
Thứ nhất 3.5 1 2.5 2.5 1 2 4 3.5 20
Thứ hai 4.5 2 2.5 3.5 2 3 5 4 26.5
Thứ ba 5 2 3.5 4 2.5 3 5 4 29

Tiểu sử nhân vật: Uchiha Itachi là ai?

Giới thiệu nhân vật

Uchiha Itachi (うちはイタチ) là một ninja thiên tài của tộc Uchiha, kiêm Đội trưởng đội Anbu của Làng Lá. Anh đã trở thành tội phạm quốc tế sau khi thảm sát toàn bộ gia tộc mình, chỉ chừa lại cậu em trai Sasuke, người đã thề lấy mạng Itachi để trả thù cho tộc Uchiha.

Itachi về sau gia nhập tổ chức tội phạm quốc tế Akatsuki và thường xuyên chạm trán với các ninja của Làng Lá. Động cơ phức tạp của Itachi được tiết lộ sau cái chết của anh, mọi điều anh làm đều là vì lợi ích của em trai và thôn làng. Anh đã luôn trung thành với Làng Lá cho tới cuối đời.

Tính Cách nhân vật

Itachi hồi nhỏ là một đứa trẻ điềm đạm và thông minh, trưởng thành hơn nhiều so với tuổi. Anh có thói quen đứng từ xa quan sát mọi người hay các ý tưởng mà không trực tiếp tiếp xúc hay trải nghiệm chúng, nhằm có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về các sự vật, sự việc.

Tuy cách tiếp cận này khiến anh khó kết thân với nhiều người, nó cho phép Itachi suy nghĩ và hành động một cách khách quan không chút định kiến, có thể đánh giá đối tượng theo đúng bản chất của nó. Trong anime, Itachi vô tình có rất nhiều bạn bè và fan hâm mộ vì sự quan tâm chân thành dành cho mọi người dẫu bản tính hơi thụ động.

Itachi dành nhiều thời gian nghiên cứu lịch sử và biết nghĩ tới nguồn gốc và tương lai chung của Làng Lá. Anh không bao giờ tỏ ra kiêu ngạo về tài năng hay những thành công của mình. Mọi ý kiến và lời nói của Itachi đều dựa trên lý lẽ hợp lý và khách quan.

Chính vì lẽ đó, Itachi không có lòng trung thành một chiều với tộc Uchiha như nhiều thành viên khác. Mơ ước của Itachi là được trở thành Hokage, nhưng anh tuyệt nhiên không thổ lộ cho ai biết. Anh cũng là một trong số ít dân làng Lá không ghét bỏ Uzumaki Naruto và đối xử tử tế với cậu mỗi khi họ tình cờ gặp nhau.

Dẫu là một người yêu chuộng hòa bình, Itachi hiểu rõ mong muốn của bản thân không quan trọng bằng sự tồn vinh của tập thể và quyết định trở thành ninja. Anh luyện tập chăm chỉ để có thể tiến bộ thật nhanh và tự đầy ải bản thân nhưng không bao giờ ca thán, chỉ vì mong muốn có thể trở nên hữu dụng cho người khác.

Kỹ năng thượng thừa giúp Itachi có cách giải quyết vấn đề nhẹ nhàng hơn so với những người khác, phù hợp với bản tính yêu chuộng hòa bình của anh. Tuy nhiên, hai tính cách đối ngược này ngày càng trở nên xung khắc khi ngày tàn của tộc Uchiha tới gần. Anh không muốn làm hại gia đình và cố kiếm tìm một cách giải quyết hòa bình hơn, nhưng hiểu rằng cách duy nhất để hạn chế đổ máu là gia tộc anh phải bị tuyệt diệt.

Cơn cuồng nộ và sự tàn nhẫn của Itachi thường trỗi dậy mỗi khi những người anh yêu quý bị tổn thương hoặc hăm dọa. Để trả thù Uchiha Yashiro đã đứng đằng sau giật dây cha mình trong bóng tối và phát động chiến tranh với Làng Lá nhưng lại tỏ ra “trong sạch”, Itachi đã liên tục tra tấn hắn bằng Tsukuyomi.

Dù phải hứng chịu nỗi đau tự tay sát hại người thân, Itachi không hề thù hận những nhà lãnh đạo của Làng Lá đã giao cho anh nhiệm vụ này. Dẫu không tin tưởng Danzō trên phương diện cá nhân, anh hiểu ông ta thật sự lo nghĩ cho tương lai của Làng Lá.

Tâm tính của Itachi đã có sự chuyển biến rõ rệt sau vụ thảm sát, một phần cũng là để tiện trà trộn vào hàng ngũ Akatsuki, khiến anh trở nên vô cảm với mọi thứ. Anh dùng đến vũ lực nhiều hơn và tán thành những hành động bạo lực của Kisame nhằm xúc tiến các mục tiêu của Akatsuki, nhưng cũng có lúc ngăn cản hay gìm bớt thói hung bạo của hắn lại nếu xét thấy thiệt hại quá lớn đối với chúng hoặc cho người khác. Mối quan hệ của anh với Kisame và người đồng đội trước đó là Biwa Jūzō đều khá tốt.

Hòa bình và sự an nguy của Làng Lá luôn thường trực trong tâm trí của Itachi, nhưng ưu tiên hàng đầu của anh vẫn là Sasuke. Hai anh em họ đã từng rất thân nhau. Sự an nguy của Sasuke là nguyên nhân chính khiến Itachi đồng ý thảm sát tộc Uchiha.

Kể cả khi làm vậy vì em trai, Itachi vẫn muốn nhận sự trừng phạt vì những tội ác đã gây ra và chọn Sasuke là người sẽ trả thù mình. Để khuyến khích Sasuke, Itachi đã che giấu động cơ của mình và giả vờ ghét bỏ cậu, chỉ chăm chăm cướp lấy đôi mắt của Sasuke để có Mangekyō Sharingan Vĩnh Cửu.

Anh tính để Sasuke giết mình và trở thành anh hùng trong mắt mọi người. Itachi không bao giờ muốn Sasuke biết được sự thật về cuộc thảm sát tộc Uchiha, và kể cả biết thì những hành động của người anh đáng ghét này cũng sẽ khiến cậu không tin.

Công cuộc theo đuổi hòa bình không ngừng nghỉ của Itachi, cộng thêm vô số những nhiệm vụ tuyệt mật và khả năng xuất chúng đủ để bảo vệ người khác đã khiến anh quyết định tự mình gánh vác mọi thứ mà chẳng cần nhờ đến sự giúp đỡ của đồng đội.

Sau khi Itachi qua đời và được chuyển sinh, anh phát hiện hầu hết những kế hoạch của mình đều thất bại thảm hại. Sasuke không trở thành người hùng mà ngược lại muốn tiêu diệt Làng Lá sau khi biết được sự thật. Anh nhận ra mình đã sai lầm khi cố gắng thao túng Sasuke hơn là thành thật và đặt niềm tin vào sức mạnh của cậu.

Itachi trút bỏ lớp mặt nạ và trở lại đúng với bản ngã của mình. Anh tỏ ra tốt bụng với người khác và đùa (một cách khô khan) trong những tình thế nan giải. Anh tin Naruto sẽ giúp Sasuke trở về chính đạo. Khi Naruto tuyên bố sẽ tự mình ngăn chặn cuộc chiến, anh cảnh báo cậu chớ nên quên giá trị của bạn bè, rằng cậu tiến xa được đến vậy là nhờ có sự giúp đỡ của những người cậu yêu thương.

Itachi còn cảm thông cho kẻ địch Yakushi Kabuto, ví sự kiêu ngạo và chỉ tin tưởng vào bản thân của hắn cũng giống như anh trước kia, và hắn sẽ chuốc lấy thất bại. Anh mở lòng và thẳng thắn đối thoại với Sasuke trong lần gặp gỡ cuối cùng, thú nhận những việc mình đã làm và chia sẻ những thông tin mà Sasuke chưa biết.

Anh xin lỗi Sasuke vì đã không làm tròn trách nhiệm của một người anh trai. Anh tự hỏi nếu ngay từ đầu mình chịu thẳng thắn với Sasuke thì biết đâu nhà Uchiha đã không đi đến nước diệt vong. Trong những giờ phút cuối cùng, Itachi nói với Sasuke anh không cần sự tha thứ và anh luôn luôn yêu quý cậu dù có chuyện gì xảy ra.

Ngoại Hình nhân vật

Itachi có đôi mắt màu đỏ với những rãnh lệ dài, sắc lém. Mái tóc đen bóng được anh buộc đuôi ngựa, với phần mái rẽ đôi ở giữa, kéo dài tới tận cằm. Ngoại hình của anh nhìn chung rất giống với Sasuke. Cả hai người họ đều được phái nữ nhận xét là rất điển trai.

Lúc còn sống ở Làng Lá, anh thường mặc một chiếc áo đen với gia huy tộc Uchiha ở đằng sau, quấn băng quanh cổ chân và mang xăng đan màu đen. Anh diện thêm một chiếc quần màu nâu nhạt và túi đựng vũ khí ở sau lưng. Mỗi khi đi làm nhiệm vụ, Itachi mặc đồng phục chuẩn của Anbu, giáp bảo vệ tay, áo chống đạn và mặt nạ sứ hình con chồn với hình tam giác lộn ngược màu đỏ ở trên cùng.

Khi gia nhập Akatsuki, anh chuyển sang áo choàng chuẩn, cao cổ của tổ chức và rạch một đường trên băng bảo vệ trán của Làng Lá với ngụ ý mình đã tuyệt giao với thôn làng. Itachi thi thoảng sẽ cởi cúc áo đến giữa ngực làm chỗ để tay trái thay vì luồn vào ống tay.

Phục trang phía dưới áo choàng của anh cũng na ná như những thành viên khác của Akatsuki, gồm một áo giáp lưới dưới chiếc áo thun xanh nước biển, quần dài xanh đậm cùng thắt lưng đơn giản màu trắng quấn quanh eo. Itachi mang chiếc nhẫn Akatsuki màu đỏ ở ngón đeo nhẫn bên phải; trên nhẫn có khắc chữ kanji “Shu” (tức là “màu đỏ thẫm”). Anh cũng sơn móng tay và chân màu tím, đồng thời đeo dây chuyền có luồn ba chiếc nhẫn bạc có đính ngọc đỏ.

Sau khi được Kabuto chuyển sinh, anh mặc một chiếc áo choàng dài tay màu nâu đỏ như các ninja được tái sinh khác và giữ lại chiếc quần màu xanh đậm và đôi dép hở mũi màu đen. Làn da của anh trở nên trắng bệch, mái tóc của anh chuyển sang màu xám sẫm và đôi mắt màu hồng vô hồn không có mống mắt.

Khả Năng

Itachi là một ninja thiên tài, ngay cả theo tiêu chí của tộc Uchiha, thường xuyên bộc lộ khả năng siêu việt vượt xa so với tuổi và nhanh chóng lên được các thứ hạng ninja. Anh thành thục cả ba bộ kỹ năng chính của ninja và được cả đồng đội lẫn kẻ thù khen ngợi. Orochimaru, một trong các Sannin, thừa nhận Itachi còn mạnh hơn cả mình.

Itachi thực tâm không thích giao tranh và sẽ cố gắng tránh phải đổ máu nếu có thể. Trong những trường hợp buộc phải chiến đấu, anh sẽ đánh nhanh dẹp gọn và không tung hết sức lực, nhưng vẫn đủ sức khiến cả một đội jōnin điêu đứng.

Chakra & Sức mạnh vật lý

Chakra của Itachi bẩm sinh đã khá mạnh, nhưng trữ lượng chakra thì còn dưới cả mức trung bình và tệ hơn nữa khi anh mắc bệnh nan y. Do đó, anh không thể tham gia các trận chiến kéo dài và hạn chế chỉ sử dụng các tuyệt kỹ của Mangekyō Sharingan ba lần/ngày trước khi nằm bẹp giường và không thể kích hoạt cả Sharingan. Giới hạn này ít nhiều đã được bù đắp bởi khả năng điều khiển chakra cực tốt của anh. Anh cũng có thể tạo thủ ấn bằng một tay.

Itachi cũng rất giỏi thể thuật, dù đây không phải là lối chiến đấu ưa thích của anh, có thể dễ dàng đánh bại ba thành viên của Đội Cảnh Sát Làng Lá năm 13 tuổi. Anh có tốc độ và phản xạ đáng kinh ngạc, đặc biệt là với các cử động của tay trong việc ném vũ khí và tạo thủ ấn, nom như thể anh có thể thi triển thuật mà không cần dùng đến ấn.

Ngay cả những người sử dụng Sharingan lão luyện cũng phải chật vật mới theo kịp được anh. Tốc độ siêu phàm cho phép Itachi chủ động tấn công trong chiến đấu, rồi lập tức lao đến nơi rút lui của kẻ thù trước cả khi chúng kịp nhận ra sự biến mất của anh, khiến chúng không kịp phản công. Sức mạnh vật lý của anh cũng khá tốt, đủ sức chặn được Kisame và thanh Samehada bằng một cây kunai.

Nhẫn thuật

Itachi có thể triệu hồi cả bầy quạ bao vây và đánh lạc hướng kẻ thù. Anh cũng hay tạo ra phân thân mà khi tan rã sẽ hóa thành những con quạ. Những phân thân bóng anh tạo ra cũng có thể dụ đối thủ và phát nổ khiến hắn bị trọng thương. Itachi cũng am tường về thuật Phong Ấn, đặc biệt là những thuật được kích hoạt bằng Sharingan. Khoảng thời gian dẫn dắt Anbu đã luyện cho anh kỹ năng đột nhập và ám sát.

Sử dụng khí giới

Vì đã trải qua khóa huấn luyện Anbu của Làng Lá, Itachi rất tinh thông kiếm thuật và đây cũng là vũ khí chính mà anh sử dụng khi lật đổ tộc Uchiha. Tộc Uchiha của anh còn rất giỏi sử dụng shuriken. Itachi ngay từ nhỏ có thể ném trúng tám mục tiêu phức tạp, một trong số đó còn được đặt ở điểm mù, bằng cách làm chệch hướng các shuriken giữa không trung.

Anh có tốc độ phóng thần tốc, có thể sánh ngang và do đó vô hiệu hóa được những ưu điểm của Thuật Triệu hồi: Lôi Quang Kiếm Hóa. Anh giỏi dùng kunai và có thể đánh tay đôi với những đối thủ dùng kiếm. Trong anime, anh đã học được kỹ thuật tay cao cấp từ Shisui để khiến đối thủ không kịp trở tay.

Biến đổi thuộc tính

Itachi có thể thực hiện các chiêu thức liên quan tới Hỏa Độn, Thủy Độn, Phong Độn và Âm-Dương Độn. Theo truyền thống nhà Uchiha, Itachi đặc biệt thông thạo Họa Độn và đã lĩnh hội được chiêu Hào Hỏa Cầu Thuật từ rất sớm. Anh cũng hay dùng lửa bọc lấy shuriken để tăng sức tấn công của chúng.

Với Thủy Độn, Itachi có thể xuất chiêu Thủy Long Đạn cao cấp mà không cần ở gần nguồn nước, hoặc biến nước có sẵn thành những xúc tu tấn công kẻ địch từ phía sau.

Ảo thuật

Itachi là một bậc thầy ảo thuật với Sharingan. Ảo ảnh của anh thường xuất hiện những con quạ và có thể được kích hoạt chỉ trong khoảnh khắc tiếp xúc mắt ngắn ngủi. Chúng quá hoàn hảo nên ngay cả những đối thủ đã chuẩn bị sẵn tinh thần trước ảo thuật cũng không thể lập tức nhận ra mình đã trúng chiêu. Nếu đối thủ dè chừng Sharingan của Itachi mà tránh ánh mắt của anh, Itachi sẽ dùng ảo thuật bằng cách chỉ vào chúng.

Itachi có thể dùng ảo thuật để chia sẻ thông tin hoặc phá hủy tinh thần của kẻ thù, cho phép anh kết thúc trận đấu trước cả khi chúng bắt đầu. Đối với những ninja cũng sử dụng ảo thuật khác, anh có thể khiến chúng bị phản đòn của chính mình. Ao cho hay Itachi là ninja duy nhất đủ mạnh để có thể dùng ảo thuật điều khiển người khác mà đến Đội Cảm Biến cũng không phát hiện ra được.

Nhãn thuật

Sharingan

Itachi thức tỉnh và thành thạo cách dùng Sharingan vào năm lên 8, với kỹ năng và sức mạnh vượt trội hơn hầu hết các thành viên trong tộc Uchiha; được mệnh danh là Sharingan Itachi trong anime.

Anh hầu như luôn kích hoạt Sharingan nhưng lượng chakra chẳng giảm đi là mấy. Sharingan cho phép Itachi nhìn thấy dòng chảy chakra, tiên đoán chuyển động, khuyếch đại năng lực của ảo thuật và thực hiện ảo thuật cao cấp Izanami, khắc tính đáng gờm của Izanagi.

Mangekyō Sharingan

Itachi đánh thức Mangekyō Sharingan sau khi Uchiha Shisui tự sát. Nó có hình ba đường cong xung quanh đồng tử. Với mắt trái, anh có thể thi triển Tsukuyomi để nhốt tâm trí của đối phương vào một thế giới ảo ảnh, thay đổi nhận thức về thời gian khiến hắn ngỡ mình đã bị tra tấn suốt nhiều ngày trời dù mới chỉ vài giây trôi qua.

Mắt phải thì cho anh khả năng phát động Amaterasu, khiến mọi thứ anh nhìn vào (kể cả lửa) bốc cháy trong những đám lửa đen. Anh cũng có thể dập tắt Amaterasu, nhưng chưa từng thi triển dạng thay đổi hình dáng như Sasuke sau này.

Itachi đã gọi được Susanoo sau khi đánh thức Mangekyō ở cả hai con mắt. Hình thái đơn giản nhất là khi anh tạo thêm tay hoặc xương để có thêm lựa chọn trong lúc chiến đấu. Trong hình thái hoàn chỉnh, anh được bao bọc bởi một chiến binh phát sáng sẽ bảo vệ anh khỏi bất cứ thương tổn nào, kể cả trước một thuật mạnh như Kirin (Kỳ Lân).

Ngoài những thanh gươm chakra và Yasaka Magatama (Bát Phản Câu Ngọc) thường thấy của các Susanoo, Susanoo của Itachi còn cầm Totsuka, thanh kiếm huyền thoại có thể phong ấn bất cứ thứ gì nó đâm qua vào chiếc hồ lô được dùng làm cán, và Kính Yata – một chiếc khiên có thể phản hồi mọi đòn tấn công bằng cách thay đổi thuộc tính chakra của nó và hóa giải chiêu thức. Việc kết hợp cả hai loại thần khí khiến Susanoo của Itachi gần như bất khả chiến bại.

Dù là một bậc thầy về Sharingan nhưng Itachi cũng hao tổn rất nhiều chakra khi sử dụng những chiêu thức kể trên. Nếu lạm dụng chúng trong một khoảng thời gian ngắn thì Itachi sẽ trở nên mệt mỏi tới mức phải đóng cả hai Sharingan.

Thị lực của Itachi suy giảm sau mỗi lần sử dụng Mangekyō Sharingan. Mới đầu nó chỉ khiến anh bị chảy máu mắt, nhưng tới cuối đời thì Itachi đã gần như mù lòa, chỉ có thể lờ mờ nhìn thấy mọi thứ. Những khiếm khuyết này đã biến mất sau khi anh được chuyển sinh và Itachi có thể thi triển tất cả các thuật liên quan tới Mangekyō mà chẳng gặp chút trở ngại nào.

Trí tuệ

Itachi là một ninja cực kì thông minh, là người có điểm số cao thứ hai trong lịch sử Học viên chỉ sau Namikaze Minato. Anh là người nghiêm túc và giỏi quan sát. Sự sắc sảo và thái độ bình tĩnh trong chiến đấu giúp anh có thể đánh trả với sự hiệu quả tuyệt đối và hầu như không bao giờ đánh giá sai tình hình.

Ngay từ khi còn nhỏ, khả năng học lịch sử đã giúp anh có được cái nhìn xa trông rộng và sự hiểu biết về hiệu ích sánh ngang với Hokage. Anh đã chuẩn bị rất nhiều biện pháp phòng ngừa có thể bảo vệ Sasuke và đánh bại Tobi, chúng sẽ được kích hoạt một khi anh chết. Ngay cả Tobi cũng phải thừa nhận nếu không phải hắn đã giữ một số bí mật với Itachi thì có lẽ hắn đã bị bẫy của anh kết liễu.

Các thông số

Databook Nhẫn thuật Thể thuật Ảo thuật Trí tuệ Sức mạnh Tốc độ Sức bền Thủ ấn Tổng
Thứ ba 5 4.5 5 5 3.5 5 2.5 5 35.5

Tiểu sử nhân vật: Hatake Kakashi là ai?

Giới thiệu

Hatake Kakashi (はたけカカシ) là một thành viên của tộc Hatake, người được mệnh danh là “Sharingan Kakashi” hay “Ninja Sao Chép Kakashi”. Anh là một trong những ninja tài giỏi nhất của Làng Lá và thường được mọi người hỏi xin cao kiến hay tiến cử vào các vị trí lãnh đạo dù bản thân không thích phải gánh vác trách nhiệm. Anh đặc biệt đề cao tình đồng đội và đã truyền dạy điều này cho Đội 7. Sau Đại Chiến Nhẫn Giả lần thứ IV, Kakashi trở thành Hokage Đệ Lục của Làng Lá.

Tính cách

Kakashi ngay từ nhỏ đã là một đứa trẻ độc lập và đầy tự tin, đôi khi còn tỏ ra kiêu ngạo và tỏ vẻ bề trên. Anh rất thông minh và nhạy bén khi đánh giá các tình huống. Sau cái chết của phụ thân, Kakashi trở nên nghiêm túc hơn và một mực tuân thủ các quy tắc của ninja. Anh sẵn sàng thẳng tay trừng phạt những kẻ phạm luật, thậm chí bỏ rơi đồng đội để hoàn thành nhiệm vụ.

Đến khi trưởng thành, Kakashi luôn tỏ ra lãnh đạm đến buồn chán, không quá quan tâm đến bất cứ thứ gì hay bất cứ ai. Dẫu danh tiếng và tài năng của anh ngày một vang xa, song Kakashi chẳng hề tỏ ra kiêu ngạo mà lại rất khiêm tốn. Anh cũng là tuýp người vô tư và lề mề, chỉ xuất hiện khi nào mình muốn và biến mất vì những lý do chẳng đâu vào đâu. Tuy nhiên, đó chỉ là thái độ của anh đối với những việc nhỏ nhặt.

Kakashi thực chất là một ninja cô độc và thực tế. Anh hầu như lúc nào cũng ở một mình trong những lúc rảnh rỗi, dành thời gian đến thăm mộ của Nohara Rin hay bệ đá tưởng niệm có khắc tên của Obito. Anh kể cho họ nghe về cuộc sống hiện tại của mình, các sự kiện gần đây tại Làng Lá và về những người mà anh quen biết. Nhưng trên hết thảy, anh thường bộc lộ sự tiếc nuối và cảm giác tội lỗi khi không có họ kề bên hay chính anh đã gây ra cái chết của họ.

Trong anime, sau khi Rin qua đời, Kakashi đã mắc phải hội chứng chấn thương tâm lý và thường xuyên mơ thấy ác mộng. Anh dần học cách chấp nhận sự thật là Rin đã tự chọn lấy cái chết, và nay cảm thấy tội lỗi vì đã thất hứa với Obito khi không thể bảo vệ Rin. Điều này càng khiến cái chết của Obito đè nặng lên tâm trí anh. Kakashi bắt đầu tự trách mình, rằng nếu anh cũng quan tâm tới đồng đội và tình bạn như Obito thì hẳn Obito đã không phải “chết”.

Nhằm xoa dịu nỗi đau của học trò, Minato đã thuyết phục anh gia nhập Anbu. Thế nhưng, trái với mong đợi của Hokage Đệ Tứ, Kakashi ngày càng trở nên lạnh lùng hơn và khét tiếng về sự tàn nhẫn của mình.

Cái chết của Obito đã có tác động rất lớn đến tâm tính của Kakashi. Anh quan tâm hơn đến tinh thần làm việc nhóm và luôn đặt sự an nguy của đồng đội lên trên cả nhiệm vụ. Vẻ lãnh đạm thường nhật hay tinh thần thượng võ chỉ mất đi khi anh phải đối diện với những kẻ lợi dụng và bóc lột đồng đội, khiến anh sôi máu mà lao vào tấn công không chút khoan nhượng. Anh hi vọng các học trò tương lai của mình cũng sẽ coi trọng tinh thần đồng đội và đã dành nhiều thời gian để tập cho Đội 7 điều đó, dẫu lúc đầu tỉ lệ hoàn thành nhiệm vụ của Đội 7 rất lẹt đẹt.

Kakashi quý mến tất cả các thành viên của Đội 7. Anh trách mình đã không thể ngăn được những hành vi phạm pháp của Sasuke và sự rạn nứt của đội trong Phần II. Mặc dù vậy, anh vẫn nuôi hi vọng Sasuke sẽ biết sửa chữa sai lầm và sự kiên nhẫn đó đã được đền đáp khi Đội 7 lại một lần kề vai sát cánh bên nhau vào cuối Phần II.

Một trong những địch thủ và người bạn đáng tin cậy nhất của Kakashi là Might Guy. Guy đã coi Kakashi như mục tiêu cần hạ bệ ngay từ lần đầu họ gặp nhau tại Học Viện. Tuy nhiên, lúc bấy giờ Kakashi chỉ nhìn Guy bằng nửa con mắt, dù thân phụ anh đã cảnh báo một ngày nào đó Guy sẽ mạnh hơn cả anh.

Thái độ thờ ơ của Kakashi càng khiến Guy muốn đánh bại anh để chứng minh lòng kiên trì của mình có thể đọ lại tài năng thiên bẩm của Kakashi. Mở đầu Phần I, điểm số của Kakashi đang là 50 thắng – 49 thua. Tỉ số của họ luôn rất sát sao và họ thi đấu dưới nhiều hình thức nên điểm số cũng không thực sự nói lên điều gì cả. Kakashi sau này coi Guy như một trong những người bạn thân đáng tin cậy nhất của anh và công nhận Guy đã vượt qua mình vào cuối Đại Chiến lần thứ IV.

Trong những năm tiếp theo với cương vị Hokage, Kakashi vẫn tiếp tục cần mẫn vì sự phát triển của Làng Lá. Anh tin rằng kể cả trong thời bình, một kẻ không biết trân trọng hòa bình thì không nên trở thành một ninja.

Kakashi là fan cuồng của series tiểu thuyết Thiên Đường Tung Tăng, lúc nào cũng kè kè một cuốn và chăm chú đọc kể cả khi đang nói chuyện với người khác. Naruto phát hiện bộ tiểu thuyết này chính là một trong số ít những điểm yếu của Kakashi.

Cậu đã tận dụng điều này trong bài thi cướp chuông, dọa sẽ nói ra kết thúc của cuốn sách mới nhất trong series, buộc Kakashi phải nhắm mắt bịt tai và Naruto đã nhân cơ hội lấy được cả 2 chiếc chuông. Dẫu hầu hết người quen đều biết Kakashi mê bộ sách này như điếu đổ, song anh lại không thích chia sẻ hay bàn luận về chúng với người khác, cảm thấy ngượng ngùng về nội dung người lớn trong sách khi buộc phải đọc to chúng lên.

Ngoại Hình

Ngoại hình của Kakashi rất giống với phụ thân nên thi thoảng họ cũng bị nhận nhầm với nhau. Anh sở hữu mái tóc chỉa nhọn màu bạc nghiêng về bên trái, đôi mắt màu xám sẫm (nhiều lúc là màu đen) với phong thái ung dung và uể oải.

Mắt trái của Kakashi đã bị hỏng trong Đại chiến lần thứ III, để lại một vết sẹo dài. Không lâu sau đó, đôi mắt này đã được thay thế bằng Sharingan và anh thường dùng băng bảo vệ trán che nó đi mỗi khi không xài đến. Hầu như cả khuôn mặt của Kakashi đều bị che kín bởi chiếc băng bảo vệ trán và mặt nạ nửa dưới khuôn mặt.

Hầu hết đám Nhẫn Khuyển của Kakashi đã quên mất khuôn mặt thật của anh vì chẳng mấy khi được nhìn thấy. Trong vài dịp hiếm hoi cởi bỏ mặt nạ, Kakashi để lộ chiếc hàm nhỏ và một nốt ruồi ở góc trái miệng. Dựa theo phản ứng của Teuchi và Ayame khi chiêm ngưỡng dung nhan của Kakashi thì anh khá điển trai.

Kakashi mặc bộ quân phục chuẩn của Làng Lá trong hầu hết Phần I và Phần II, gồm một chiếc áo giáp xanh rêu, quần màu xanh sẫm và áo dài tay đồng màu. Anh cũng đeo găng tay hở ngón với đĩa đệm sắt ở mu bàn tay. Anh còn đeo một sợi dây chuyền sắt ở cổ.

Trang phục của anh trong cuộc Đại Chiến lần thứ IV không có nhiều thay đổi, ngoại trừ chiếc băng tay màu đỏ ở bắp tay bên trái, chân đi bốt thay vì xăng đan và chiếc áo giáp của Làng Lá với thiết kế mới. Trong các dịp trọng đại, anh thường mặc trang phục của Hokage, gồm có mũ trùm và áo haori truyền thống, cùng với một chiếc áo kimono dài màu đỏ với dòng chữ Kanji ở phía sau ám chỉ anh là Hokage Đệ Lục, có thêm khăn trắng ở cổ.

Kakashi đã từng mặc nhiều trang phục khác nhau trước khi Phần I diễn ra. Trong Đại chiến Nhẫn giả lần thứ III, anh xuất hiện với chiếc áo thun cộc tay màu đen có những đường kẻ trắng ở giữa tay áo. Trên hai cánh tay, anh đeo chiếc tay áo màu đen (mà có lẽ được cắt ra từ chiếc áo của mình) và miếng bảo vệ tay bằng kim loại.

Ngoài ra, anh đeo một chiếc dây da bắt chéo trước ngực và vòng ra phía sau lưng cùng với thanh đao Chakra Bạch Quang. Trong thời gian làm cho Anbu, anh mặc bộ đồ đơn giản màu xanh dương bên dưới chiếc áo giáp xám, xăng đan cao cổ nhiều khóa và giáp tay dài đến tận khửu.

Mỗi khi không phải làm nhiệm vụ của Anbu, anh mặc bộ đồ tương tự với giáp tay nhiều nấc và cuốn băng quanh bắp chân. Mặt nạ cáo của Kakashi có những đường vẽ màu đỏ/đen xung quanh mắt, hai bên má và miệng. Trên bắp tay trái của anh có hình xăm đặc trưng của Anbu từ hồi mới gia nhập tổ chức.

Khả năng

Kakashi là một thiên tài bẩm sinh, bằng chứng là anh đã tốt nghiệp học viện ninja với thành tích cao nhất khi chỉ mới 5 tuổi, trở thành chunin khi lên 6, là jounin năm 13 tuổi và đã có một thời gian dài làm Anbu. Danh tiếng của anh đã vươn xa tới mức những ninja làng khác như Momochi Zabuza và Raikage Đệ Tứ chỉ nhìn qua là đã lập tức nhận ra anh.

Kakashi được khá nhiều thành viên của Akatsuki đánh giá là một đối thủ mạnh. Uchiha Itachi nhận định ngay cả Hoshigaki Kisame cũng không dễ gì đánh bại anh. Kakashi đã có một cuộc đấu bất phân thắng bại với ninja cấp S Kakuzu và được Pain xem như mối đe dọa lớn đối với các kế hoạch của Akatsuki.

Mọi người ở Làng Lá thì kính nể khả năng chiến đấu và tài lãnh đạo của Kakashi, bằng chứng là nhiều năm sau anh đã được bầu lên làm Hokage. Vài người còn tin rằng với sức mạnh của mình, Kakashi có thể đánh bại cả một quốc gia.

Mặt khác, Lục Đạo Tiên Nhân Ōtsutsuki Hagoromo nhận xét Kakashi đã làm tốt vai trò của một người thầy (dạy Naruto), người bạn (với Tobi) và nhà lãnh đạo, vậy nên anh mới có thể đánh bại mẫu thân ông là Ōtsutsuki Kaguya. Anh cũng có thể chống cự lại ảo thuật của các thành viên nhà Uchiha dẫu bản thân không mấy khi dùng tới chúng.

Chakra & Sức mạnh vật lý

Lượng chakra của Kakashi chỉ ở mức tầm tầm hạng trung (tự nhận), nhưng sau đó đã được cải thiện đáng kể theo thời gian. Anh đã nâng được số lần sử dụng Chidori (Thiên Điểu) từ 4 lần/ngày trong Phần I lên 6 lần/ngày trong Phần II, và có thể thi triển Kamui (Thần Uy) nhiều hơn 3 lần/ngày.

Với khả năng thể thuật đáng gờm, Kakashi có thể xài nhiều cách tiếp cận khác nhau trong đánh cận chiến. Khoảng thời gian gia nhập Anbu đã giúp anh tôi luyện khả năng xuất hiện đột ngột đằng sau đối thủ mà ngay đến những Anbu khác cũng không kịp nhận ra. Những cuộc thi liên tiếp với Might Guy luyện cho anh kỹ năng tấn công ngay từ phía trước với tốc độ cao để nhanh chóng hạ gục nhiều đối thủ. Kakashi đã mở được ít nhất một trong Bát Môn.

Các kĩ năng khác của anh gồm có: sức mạnh vật lý khủng khiếp khi nâng Kubikiribōchō chỉ bằng một tay; tốc độ phản xạ nhanh giúp anh chặn các đòn tấn công dù không nhìn thấy gì, đủ nhanh để thi triển các thủ ấn với tốc độ mà mắt thường không thể theo kịp, vậy nên khống chế hai cánh tay của Kakashi là một trong những cách hữu hiệu nhất để đánh bại anh.

Nhẫn thuật

Phong cách chiến đấu ưa thích của Kakashi là dựa vào vốn hiểu biết sâu rộng và khả năng thi triển nhẫn thuật thuần thục của mình, mà anh đã bộc lộ từ trước cả khi gia nhập Học Viện. Nhờ có Sharingan, anh đã sao chép được cả ngàn thuật và được mệnh danh là “Ninja Sao Chép Kakashi”.

Với sự am hiểu nhẫn thuật và nhiều năm kinh nghiệm, Kakashi có thể giải quyết hầu hết mọi tình huống bằng nhiều cách khác nhau. Orochimaru cũng phải khen ngợi tài sử dụng thuật Phong Ấn của anh.

Kakashi còn có riêng một đội Nhẫn Khuyển (ninken) được anh nuôi dưỡng từ khi chúng còn bé tí. Trong anime, anh đã sử dụng chúng trong cuộc Đại chiến lần thứ III. Trên chiến trường, anh có thể triệu hồi một hoặc nhiều nhẫn khuyển đi lấy đồ, truyền thư hoặc sai chúng khống chế mục tiêu. Anh đặc biệt hay dùng chúng để truy đuổi và lần theo dấu vết của những mục tiêu không rõ manh mối.

Biến đổi Thuộc tính

Kakashi sử dụng được cả 5 biến đổi thuộc tính cơ bản và Âm-Dương Độn. Anh có thể thi triển Thủy Độn mà không cần ở gần nguồn nước, tạo ra vô số những cơn lũ, rồng biển hay các bức tường để bảo vệ mình hoặc ngăn chặn kẻ thù.

Thuộc tính chủ đạo của Kakashi là Lôi Độn. Nhiều lúc anh còn truyền chakra vào vũ khí để tăng khả năng sát thương của chúng. Hồi trẻ anh đã cố dung hợp Rasengan (La Hoàn Toàn) với tính sét của mình nhưng bất thành. Thay vào đó, anh đã nghĩ ra Chidori, một tuyệt chiêu đòi hỏi Kakashi phải tập trung chakra sấm sét vào một tay và nhờ đó có thể đâm xuyên qua hầu hết mọi mục tiêu.

Kakashi đã từng dùng phiên bản nâng cấp của Chidori là Raikiri (Lôi Thiết) để chém đứt đôi một tia chớp. Cả hai đều đòi hỏi Kakashi phải di chuyển cực nhanh, khiến anh khó nhìn thấy chuyển động của đối phương để phòng thủ nếu bị tấn công, nên Kakashi chỉ có thể dùng chúng một cách an toàn khi kết hợp với Sharingan.

Các chiêu thức thuộc tính Lôi Độn khác mà anh có thể thi triển gồm có Lôi Thú Tẩu Chi Thuật, cho phép anh điều khiển những con chó sấm sét tấn công kẻ thù, Lôi Độn Ảnh Phân Thân gây tê liệt đối phương khi tiếp xúc và Lôi Truyền có thể cắt được cánh tay chakra của các Jinchuriki đang bị Madara điều khiển.

Sau khi mất đi Sharingan trong Đại chiến lần thứ IV, anh đã tạo ra Lôi Độn: Tử Lôi, cho phép anh giải phóng một chùm điện màu tím từ tay để tấn công từ xa, tăng sức phát thương của các đòn tấn công vật lý hoặc phóng điện từ khắp cơ thể.

Nhãn thuật

Sharingan

Kakashi đã được Uchiha Obito tặng cho Sharingan trong Đại chiến thứ III để thay cho bên mắt trái đã bị hỏng trước đó không lâu. Nhờ có nó, Kakashi có thể sao chép gần như tất cả các loại nhẫn thuật đã gặp (trong phạm vi khả năng vật lý của anh cho phép), phân biệt thật giả, thôi miên đối thủ và sử dụng hàng loạt ảo thuật.

Tuy nhiên, do anh không mang dòng máu Uchiha nên việc dùng Sharingan tiêu tốn một lượng lớn chakra so với bình thường. Mặt khác, do không thể tắt nó được nên anh thường che con mắt bên trái lại bằng chiếc băng bảo vệ đầu. Kakashi sẽ chỉ sử dụng Sharingan khi cảm thấy điều đó thật sự cần thiết và sau mỗi lần sử dụng trong thời gian quá lâu, anh thường phải nghỉ ngơi vài ngày.

Mặc dù không có được Sharingan chính thống nhưng Kakashi sử dụng nó rất tốt, ngay cả Uchiha Itachi – hậu duệ của tộc Uchiha và là một bậc thầy về Sharingan – cũng đã thừa nhận khả năng sử dụng nó của anh tốt hơn so với rất nhiều người mang Sharingan chính thống khác.

Kakashi đã bị Uchiha Madara cướp mất Sharingan trong Đại chiến thứ IV. Linh hồn Obito sau khi qua đời đã tạm quay trở lại và trao Mangekyō ở cả hai con mắt cho Kakashi, giúp anh phát huy được toàn bộ công lực của nhẫn thuật này.

Mangekyō Sharingan

Cái chết của Nohara Rin đã đồng thời đánh thức Mangekyō Sharingan của cả Obito và Kakashi. Mangekyō của anh có hình dạng ba hình tam giác xung quanh đồng tử, tương tự như chân vịt ở tàu thủy. Anh đã có được nó suốt hơn một thập kỷ, dẫu phải liên tục gánh chịu những tác dụng phụ của thuật này sau mỗi lần sử dụng, ví như chảy máu mắt hay thị lực suy giảm.

Trước khi bị đánh cắp Sharingan, anh đã gần như mất đi thị lực ở mắt trái nên phải tiếp cận đối phương thật gần thì mới có thể thi triển Mangekyō một cách chính xác.

Với Mangekyō bên mắt trái, Kakashi đã có thể sử dụng được Kamui để đứng từ xa tạo thành một kết giới bắt giữ bất cứ đối tượng nào mà anh nhắm tới và đẩy chúng sang một chiều không gian khác. Anh sau đó đã học được cách dùng Kamui lên chính mình để di chuyển giữa các chiều không gian.

Mới đầu khi chưa thành thạo Kamui, Kakashi đều phải chuẩn bị rất lâu và tiêu tốn nhiều chakra mỗi khi thi triển đòn này, thậm chí còn hay nhắm trượt mục tiêu. Khả năng của anh đã dần được cải thiện, có thể dịch chuyển cả những vật được phóng với tốc độ cao sang chiều không gian khác.

Anh đã nâng được số lần sử dụng (thay vì chỉ 3 lần) cũng như tốc độ thi triển Kamui so với thời gian đầu, khiến đối thủ còn chẳng nhận ra mình đã bị trúng ảo thuật của Kakashi.

Sau khi nhận Mangekyō cả hai bên của Obito, Kakashi đã có thể sử dụng cả Kamui từ xa (như hồi đầu) và ở gần, giúp anh có được năng lực “xuyên thấu” khiến mọi đòn tấn công đều xuyên qua người mình mà chẳng hề hấn gì. Kết hợp “xuyên thấu” với Lôi Thiết, Kakashi có thể vượt qua mọi lớp phòng thủ và loại trừ khả năng bị đáp trả khi tấn công.

Anh còn tạo ra Susanoo, đặc biệt là dạng toàn chân thể khổng lồ, để bay, che chắn cho những người khác và kết hợp thêm khả năng xuyên thấu của Kamui. Susanoo của Kakashi cũng cầm gươm như các Susanoo khác, nhưng nó có thể phi thêm Kamui Shuriken để dịch chuyển bất cứ thứ gì bị cắt. Kakashi cũng có được một ít Chakra Lục Đạo, giúp anh liên tiếp sử dụng Mangekyō Sharingan và các khả năng liên quan mà không bị ảnh hưởng sức khỏe hay suy giảm thị lực.

Trí tuệ

Một trong những cách chiến đấu của Kakashi là sử dụng Phân Thân Chi Thuật và các thuật phân thân khác, cho phép anh tránh được nguy hiểm và quan sát đối thủ cũng như khả năng của chúng. Ngay cả khi không vận dụng lối đánh lạc hướng và mồi nhử này, anh vẫn luôn để ý tới những sự kiện bất chợt hoặc khó lý giải, đặt ra giả thiết về căn nguyên của chúng và lợi dụng tình huống để chứng minh giả thiết (thường là đúng) của mình.

Một khi đã phát hiện ra điểm yếu của đối thủ, Kakashi sẽ nhanh chóng lên kế hoạch tận dụng những kỹ năng đặc biệt của quân mình để nhắm vào điểm yếu đó. Chúng thường rất chi tiết và mới lạ, với tỉ lệ thành công cao, rủi ro thấp, chứng tỏ khả năng lãnh đạo tài ba của anh.

Các chỉ số

Databook Nhẫn thuật Thể thuật Ảo thuật Trí tuệ Sức mạnh Tốc độ Sức bền Thủ thuật Tổng
Thứ nhất 5 4 4 4.5 3.5 4 3 5 33
Thứ hai 5 4.5 4 5 3.5 4.5 3 5 34.5
Thứ ba 5 4.5 4 5 3.5 4.5 3 5 34.5

Tiểu sử nhân vật: Nara Shikamaru là ai?

Giới thiệu nhân vật

Shikamaru Nara (奈良シカマル) là ninja của tộc Nara thuộc Làng Lá. Dẫu lười bẩm sinh, song nhờ trí thông minh vượt bậc mà cậu vẫn liên tục hoàn thành nhiệm vụ hay giành chiến thắng trong các trận đấu. Thành công và tài năng thường đi liền với trách nhiệm, Shikamaru dù khá khó chịu khi “bị nhờ” nhưng rồi vẫn đón nhận chúng nhằm hỗ trợ Đội Asuma và chứng minh bản thân với các thế hệ cha ông và tương lai của Làng Lá.

Tiểu sử

Shikamaru là người con độc nhất của Nara Shikaku và Yoshino. Hồi nhỏ, cậu đang chơi ninja với các bạn đồng trang lứa thì Akimichi Chōji ngỏ ý muốn chơi cùng. Những đứa trẻ khác phản đối, chê Chōji quá ngốc nghếch. Sau khi không thể thuyết phục cả nhóm cho Chōji chơi, Shikamaru liền bỏ đi ngắm mây tại chỗ ưa thích và tình cờ thấy Chōji cũng đang ngồi ở đó.

Shikamaru tự giới thiệu bản thân và mời Chōji cùng ngắm mây. Chōji mời Shikamaru ăn chung và họ trở thành bạn thân từ đó. Sau khi theo học ở Học viện Ninja của Làng Lá, cả hai lúc nào cũng ngồi chung với nhau trong lớp và cùng đi chơi sau giờ tan trường. Shikamaru không hứng thú với việc học hành. Cậu thường ngủ gật trong lớp và phớt lờ các bài kiểm tra nên toàn bị điểm kém.

Tính Cách

Với bản tính lười biếng, Shikamaru luôn có xu hướng làm càng ít càng tốt. Cậu thích dành thời gian ngắm mây, ngủ, hết chơi cờ tướng lại tới cờ vây. Mục tiêu của Shikamaru là sống một cuộc đời thầm lặng, tự do làm bất cứ việc gì mình muốn nhưng không gây chú ý, rồi chết đi cũng lặng lẽ như lúc sống.

Mỗi khi gặp tình huống phải tốn công sức, câu cửa miệng của Shikamaru luôn là “thật phiền phức”, rồi cậu chàng sẽ cố tìm cách thoái thác nhiệm vụ bằng cách giả vờ ốm hay thẳng thừng từ chối việc được giao.

Mặc dù tự nhận mình là “tên nhát gan số một thiên hạ”, Shikamaru là một người tốt bụng và tận tụy với bạn bè. Những phẩm chất này buộc cậu phải từ bỏ bản ngã chây lười để tình nguyện làm việc hay hi sinh bản thân vì lợi ích của quân mình, mặc dù nó cũng ít nhiều đem lại cho cậu nhiều mâu thuẫn: càng cố gắng bảo vệ bạn bè trong những cuộc chiến mình được phân công làm chỉ huy thì lại càng bị giao thêm nhiều việc.

Shikamaru vẫn cố gắng lười hết mức có thể, dù không thể chây lười cả ngày nhưng chí ít cậu cũng không đặt ra những mục tiêu dài hạn hay thú nhận bất cứ cảm giác thỏa mãn nào mỗi khi làm nhiệm vụ.

Shikamaru đã trưởng thành lên rất nhiều sau cái chết của thầy Sarutobi Asuma. Nỗi mất mát to lớn ấy khiến Shikamaru nhận ra sự bất ổn của thế giới này và rằng nó sẽ không che chở cho cậu mãi. Sau khi báo thù cho Asuma, Shikamaru tự nhủ sẽ làm mọi thứ có thể vì một tương lai tốt đẹp hơn cho các thế hệ tương lai của Làng Lá, đặc biệt là cô con gái chưa chào đời của Asuma là Mirai.

Cậu vẫn cau có mỗi khi được giao việc, nhưng không còn trốn chạy khỏi chúng nữa, thậm chí còn tranh cãi về những chọn lựa khó khăn giữa việc bảo vệ tính mạng cho bạn bè hay thôn làng.

Phụ nữ là một trong những điều cực kì phiền toái đối với Shikamaru. Ba người phụ nữ gần gũi nhất với cậu là mẹ Yoshino, Yamanaka Ino và Temari. Cậu miêu tả cả ba đều hung dữ, hạch sách và đôi lúc đáng sợ. Shikamaru luôn hành xử cẩn trọng trước phụ nữ bằng cách không tranh cãi hay tỏ ra lịch thiệp với họ và không bao giờ nhờ cậy phụ nữ bất cứ việc gì mình có thể làm được.

Trong Phần I, cậu thực sự tin rằng mình có thể tự làm mọi thứ và thấy xấu hổ khi phải nhận sự giúp đỡ từ một cô gái. Sự khó chịu này cũng dấy lên trong rất nhiều lần cậu phải chạm trán với các nữ đối thủ. Shikamaru thường xin lời khuyên từ cha để có thể hiểu hơn về phái nữ, do ông Shikaku có cùng quan điểm và những trải nghiệm giống cậu.

Trong thế giới của Nguyệt Độc Vô Hạn, cậu đã suốt đời không lấy vợ. Tuy nhiên, sau khi nhận ra Temari là người quý giá nhất với mình trên thế giới này trong Shikamaru Hiden, cậu đã cưới cô và họ có với nhau một cậu con trai tên Shikadai. Oái oăm là mối quan hệ của vợ chồng Shikamaru cũng giống y như bố mẹ cậu, mặc dù Shikamaru từng có lần chế giễu ông Shikaku là một kẻ “sợ vợ”, cũng giống như cậu bây giờ.

Shikamaru là một trong số ít những người sớm nhận ra những đóng góp to lớn của Naruto với Làng Lá bất chấp những khó khăn của bản thân và trở nên đồng cảm với người bạn học cũ. Mục tiêu mới của cậu là giúp Naruto trở thành Hokage và kề vai sát cánh bên bạn trong vai trò cố vấn riêng.

Shikamaru rốt cuộc đã hoàn thành mục tiêu này và thường tự mình nhận nhiều nhiệm vụ để giảm đỡ gánh nặng cho Hokage Đệ Thất. Song song với đó cậu vẫn giữ nguyên bản tính vô tư lự từ hồi trẻ. Shikamaru khá mềm mỏng với con trai, xem những hành vi quậy phá và/hoặc sự trừng phạt ở trường là một phần quá trình học tập của con mình, tin rằng Shikadai sẽ tự tìm được con đường cho bản thân.

Ngoại Hình

Shikamaru sở hữu đôi mắt híp màu nâu và lúc nào cũng tỏ ra buồn chán hoặc khó chịu. Mái tóc màu đen, dài đến vai được cậu cột thành một túm tóc đuôi ngựa lởm chởm. Trong Phần I, cậu thường mặc một chiếc áo giáp lưới bên dưới áo jacket cộc tay màu xám, viền xanh lá cây với biểu tượng tối giản của tộc Nara sau lưng. Cậu vận chiếc quần lửng màu nâu, tai đeo khuyên tròn bạc đặc trưng của tộc mình và cột băng bảo vệ trán ở bắp tay trái.

Shikamaru chùm thêm một chiếc áo giáp chống đạn màu xanh rêu sau khi được thăng hạng lên chūnin. Trong phần II, Shikamaru đổi sang đồng phục ninja điển hình của Làng Lá, chỉ khác là cậu vận thêm hai chiếc áo giáp lưới viền xanh ở cổ tay và cẳng chân, chiếc đĩa ở băng bảo vệ trán cũng được khâu vào tay áo bên trái. Chiếc khuyên tai lỗ đã được chuyển sang khuyên tai stud mà thầy Sarutobi Asuma tặng.

Trong The Last: Naruto the Movie, trang phục của Shikamaru hầu như vẫn giống hệt Phần II, nhưng chiếc áo giáp của Làng Lá đã có thiết kế mới. Cậu cũng chuyển sang một đôi xăng-đan cao cổ che gần hết bắp chân. Đến tuổi trưởng thành, cậu để một chòm râu dê và không còn diện thời trang bộ binh nữa mà chuyển sang mặc áo khoác đuôi tôm với quần dài tương tự như phong cách của ông Shikaku.

Khả năng

Với kết quả học tập lẹt đẹt, những tưởng Shikamaru sẽ chỉ là một ninja vô danh tiểu tốt, nhưng khả năng của cậu đã được bộc lộ khi Shikamaru là thành viên duy nhất của khóa mình trở thành chūnin trong Phần I. Dẫu chỉ là một chūnin mới, song cậu đã có thể phản kháng lại những đối thủ cấp jonin như Tayuya của Tứ quái làng Âm Thanh. Trong Phần II, cậu đánh bại được Hidan của Akatsuki sau khi lùa hắn vào bẫy.

Shikamaru từng được đề nghị gia nhập Thập Nhị Hộ vệ của Hỏa Quốc (chỉ trong anime); cậu trở thành phó chỉ huy của Sư đoàn 4 và tham mưu trưởng của toàn bộ Liên Minh Nhẫn Giả, đồng thời là cánh tay phải của Hokage Đệ Thất (Naruto) nhiều năm sau đó. Sarutobi Asuma, Temari và Uzumaki Boruto từng nhận xét Shikamaru có những tố chất để trở thành Hokage, nhưng Shikamaru đáp cậu không muốn phải gánh vác những trọng trách nặng nề đó.

Nhẫn thuật

Các thuật biến đổi tự nhiên mà Shikamaru có thể thi triển gồm có Âm Độn (mà cậu thường dùng để thực hiện các bí thuật), Hỏa Độn và Thổ Độn. Trong anime, Shikamaru còn biết thuật Phong Ấn, bằng chứng là cậu đã cố phong ấn Lôi Độn: Ngụy Ám của Kakuzu vào trong một cuộn giấy và sau đó giải phóng nước từ một cuộn khác để làm chất dẫn điện giật Kakuzu. Cậu cũng có thể sử dụng Phi Yến và tạo ra các phân thân bằng cách truyền chakra vào bóng và biến đổi chúng hoặc sử dụng Di Thùy Dương Trường.

Tuyệt kỹ tộc Nara

Cũng giống như các thành viên khác của tộc Nara, Shikamaru có khả năng điều khiển bóng của chính mình. Tuyệt kỹ của cậu là Ảnh Chân Tự, mà theo anime là cậu đã học được từ trước cả khi nhập học Học viện Nhẫn Giả.

Bằng cách nối bóng của mình với bóng đối thủ, Shikamaru có thể dùng Ảnh Chân Tự để giới hạn chuyển động của kẻ địch và buộc đối phương phải chuyển động giống mình. Kẻ địch có thể kháng cự để thoát khỏi sự điều khiển của cậu nên Shikamaru phải nỗ lực nhiều hơn để giữ chúng tuân lệnh; còn khi vì một lý nào đó phải sử dụng thuật này lên quân mình hay những kẻ bất tỉnh thì quá trình điều khiển sẽ đơn giản hơn nhiều.

Suốt Phần I và Phần II, Shikamaru phải làm ấn chú thích hợp để điều khiển bóng, nhưng những năm sau đó, cậu có thể tự do điều khiển nó mà không cần ấn chú. Đến khi trưởng thành, tốc độ thi triển thuật này của Shikamaru đã nhanh tới mức cho phép cậu khống chế Hokage Đệ Ngũ và cận vệ của y trước cả khi đối phương kịp phản ứng, trong số đó chỉ có Hokage là đủ khả năng tự giải thoát. Do đó, Shikamaru hoàn toàn có thể kết liễu họ nếu muốn.

Sau khi trở thành một chūnin, Shikamaru được học Ảnh Thủ Phược Chi Thuật, cho phép cậu siết cố bất cứ ai đang bị Ảnh Chân Tự khống chế. Ảnh Thủ Phược Chi Thuật chỉ có thể được thi triển trên các bề mặt bằng phẳng và đối phương cũng có thể kháng cự lại nếu đủ mạnh.

Sang đến Phần II, Shikamaru đã có thể thoải mái dùng bóng tách khỏi các bề mặt để đâm đối thủ hay nâng các vật thể lớn. Cậu thậm chí có thể truyền chakra của mình vào hai đoản kiếm chakra của thầy Asuma để đâm vào bóng của đối phương và khống chế chúng từ khoảng cách nhất định.

Trí thông minh

Sau khi Shikamaru được phân vào Đội 10, Asuma nhận ra Shikamaru thông minh, sắc sảo hơn nhiều do với những gì điểm số học tập yếu kém của cậu phản ánh. Bằng cách dụ cậu chơi trò chơi và các trò giải đố (nhưng thực chất là các bài kiểm tra trí thông minh), Asuma phát hiện Shikamaru có chỉ số IQ tận 200. Bởi vậy Shikamaru thường xuyên phải gánh vác nhiều trách nhiệm, với Hokage đệ Ngũ liên tục ép cậu phải vận dụng trí thông minh của mình vì lợi ích của đồng đội và thôn làng.

Niềm tin của Hokage là hoàn toàn có cơ sở, bởi Shikamaru luôn tinh tường nhận ra hạn chế của mình và những người khác, từ đó tránh được những hiểm họa bất chợt hay không cần thiết. Shimaru sang đến Boruto: Naruto the Movie được đánh giá là người thông minh nhất làng Lá.

Shikamaru luôn dùng chung một cách tiếp cận cho mọi nhiệm vụ: cậu luôn lưu tâm đến tất cả mọi động tĩnh của quân mình và kẻ địch, kể cả những diễn biến tưởng chừng nhỏ nhặt hay lúc bấy giờ cậu vẫn chưa hiểu nổi; cậu chú ý tới vị trí tương quan giữa các sự vật với nhau, kể cả những thứ rõ ràng không có tính thực tiễn; cậu nghiên cứu hành vi của mọi chiến binh, từ từ học cách họ phản ứng trong từng hoàn cảnh.

Sau khi tập trung sắp xếp lượng thông tin đồ sộ này (bằng cách nhắm mắt lại hoặc chạm 10 đầu ngón tay vào nhau thành hình vòng tròn), Shikamaru có thể nhanh chóng nghĩ ra 10 bước trước đối thủ và lập ra hơn một trăm kế hoạch, rồi lập tức chọn ra những sách lược hữu hiệu nhất.

Những sách lược này thường rất chi tiết và có nhiều chi tiết đánh lạc hướng, trong đó cậu lấy những chiến thắng nhỏ để tiêu trừ các yếu tố hiểm họa lớn, giả vờ bị đánh bại để di chuyển địch và tạo ra những điều kiện khiến đối phương tự diệt. Uchiha Obito cũng phải khen ngợi Shikamaru và thấy tiếc khi cậu “lãng phí” tài năng trong Liên Minh Nhẫn Giả.

Thông số

Databook Nhẫn Thuật Thể thuật Ảo thuật Trí tuệ Sức mạnh Tốc độ Chakra Ấn chú Tổng
Thứ nhất 2.5 1.5 2.5 5 1.5 2 1.5 2.5 19
Thứ hai 3 1.5 3 5 2 2.5 2 2.5 21.5
Thứ ba 3.5 2 3 5 2 2.5 3 3 24

Tiểu sử nhân vật: Namikaze Minato là ai?

Giới thiệu nhân vật

Namikaze Minato (波風ミナト) là Hokage Đệ Tứ của Làng Lá. Lúc sinh thời, anh nổi tiếng với tốc độ thần tốc và được mệnh danh là Tia Chớp Vàng của Làng Lá. Anh đã qua đời trong trận chiến với Cửu Vĩ Hồ, hy sinh tính mạng để phong ấn một phần linh hồn Cửu Vĩ vào Uzumaki Naruto mới chào đời.

Tính Cách

Dẫu bề ngoài giống nhau, song Minato hồi nhỏ sắc sảo và điềm đạm hơn nhiều so với Naruto. Jiraiya nhận xét Minato là một người nhìn xa trông rộng và làm gì cũng có nguyên nhân rõ ràng. Minato hiểu rõ danh tiếng của mình đã khiến các phe đối địch phải dè chừng tới mức nào và đôi khi còn tận dụng điều đó. Tuy nhiên, anh không tỏ ra kiêu ngạo mà luôn giữ thái độ tôn trọng địch thủ.

Minato hiếm khi can thiệp vào đời tư của người khác nếu không cần thiết và cũng không phải người hay ôm hận, thậm chí anh còn cảm thấy tiếc cho Tobi (Obito) dẫu hành động của y đã dẫn tới cái chết của vợ chồng anh.

Minato luôn tự trách cái chết của mình vì nhiều lý do: anh đã không thể ngăn Obito lầm đường lạc lối, không tránh được những khó khăn ập xuống Làng Lá sau khi anh qua đời, cũng như cứu Naruto khỏi cuộc sống khổ cực và cô đơn của một Chủ thể Vĩ Hồ không cha không mẹ.

Tính tình của cha con anh cũng có nhiều điểm giống nhau: cả hai đều có tinh thần bất khuất và tham vọng lớn khiến họ vượt qua tất cả những chọn lựa trong cuộc sống. Cả hai đều tuyệt đối trung thành với Làng Lá và những người họ yêu thương (bạn bè, gia đình) và sự tận tụy đó truyền cảm hứng cho tất cả những người xung quanh.

Giống như Naruto, Minato có khuynh hướng tạo ra những chiêu thức mới lạ, dù nhiều khi thành phẩm là những cái tên phức tạp quá mức cần thiết hơn là một chiêu tử tế.

Sau khi trở thành Hokage, Minato cảm thấy tự hào hơn về bản thân nên đã chuyển sang tự xưng là “ta” (ore) thay vì “tôi” (watashi), nhưng anh vẫn rất khiêm nhường và xưng hô với mọi người bằng kính ngữ phù hợp.

Ngoại hình

Ngoại hình của Minato và Naruto thường xuyên được đem ra so sánh với nhau. Cả hai đều sở hữu đôi mắt sáng ngời màu xanh da trời và mái tóc vàng chỉa nhọn. Minato còn để tóc mai dài đến cằm, buông thõng xuống hai bên. Theo lời Jiraiya, Minato lúc sinh thời được đánh giá là cực kì khôi ngô tuấn tú.

Anh thường mặc đồng phục chuẩn của ninja Làng Lá và buộc thêm hai sợi dây ở mỗi bên tay áo, đeo băng bảo vệ trán và đi xăng đan màu xanh dương. Sau khi trở thành Hokage, Minato vận thêm một chiếc haori trắng cộc tay, có thể đóng lại bằng sợi dây mảnh màu da cam. Chiếc haori có họa tiết ngọn lửa ở viền áo, với chữ kanji “Hokage Đệ Tứ” (四代目火影) dọc đằng sau lưng.

Lúc còn theo học ở Học Viện Nhẫn Giả, anh mặc một chiếc áo khoác màu trắng có mũ, với những đường kẻ màu xanh lá cây chạy dọc theo tay áo. Khi đã là một ninja thực thụ, anh chuyển sang chiếc áo khoác có ba sọc dọc ở tay áo, đi cùng với áo giáp lưới, quần dài và xăng đan đen.

Khả Năng

Minato là một trong những ninja mạnh nhất trong lịch sử nhẫn giả, chẳng thế mà Kakashi, Jiraiya và Raikage Đệ Tứ đều nhận định không ai có vượt qua Tia Chớp Vàng của Làng Lá. Trong Đại chiến Nhẫn giả lần thứ III, các ninja bên địch đã được lệnh phải lập tức bỏ chạy nếu lỡ chạm trán Minato. Khi Cửu Vĩ tấn công Làng Lá, chính nhờ những động thái của Minato mà Tobi và Cửu Vĩ đã bị đánh bại, thôn làng không hoàn toàn bị xóa sổ. Mitarashi Anko khi trao đổi với Hokage Đệ Tam về mối nguy hiểm rình rập từ Orochimaru, đã khẳng định Minato là người duy nhất có thể ngăn chặn dã tâm của y và cảm thấy tiếc trước cái chết của anh.  

Sức mạnh Vật lý và Nguồn Chakra

Minato được ví như ninja với tốc độ nhanh nhất mọi thời đại. Dẫu đánh giá này phần lớn là nhờ thuật điều khiển không gian – thời gian, song tốc độ tự nhiên của Minato quả thực đáng gờm, chỉ bằng Thuấn Thân Thuật, anh có thể lập tức tấn công kẻ thù hay giải cứu đồng đội trước khi mọi người kịp nhận ra; băng qua một khoảng cách xa trong nháy mắt và ra chiêu trước cả địch thủ.

Trong anime, anh xuất hiện trước khi các máy cảm ứng có thể lần được chuyển động của mình và dễ dàng hạ gục ba shinobi. Phản xạ nhanh nhạy của Minato giúp anh né được các tuyệt kỹ bắn tới như Kamui của Tobi và Lôi Quyền của A.

Minato có nguồn lực chakra dồi dào, đủ để triệu hồi Gamabunta và dịch chuyển vĩ thú. Khả năng điều khiển chakra lão luyện của Minata được minh chứng qua cách anh thi triển Rasengan và dùng một tay tạo ấn chú. Minata thích lối đánh nhanh diệt gọn, nên anh ít khi sử dụng những kĩ thuật truyền thống tốn nhiều thời gian chuẩn bị như thủ ấn.

Nhẫn thuật

Minato đã được Jiraiya truyền thụ cho thuật Triệu Hồi (Cóc) và là một trong số ít người Gamabunta coi trọng và toàn tâm hợp tác. Anh cũng có hiểu biết về các thuật tạo kết giới và sử dụng Ảnh Chân Tự. Giác quan cực chạy cho phép anh phát hiện ra các dấu vết chakra từ khoảng cách rất xa.

Còn nếu đặt ngón tay xuống đất, Minato có thể phát hiện ra những mục tiêu ở gần. Ngoài ra, anh còn tinh thông các thuật biến đổi thuộc tính gồm Hỏa Độn, Phong Độn, Lôi Độn, Âm và Dương Độn.

Rasengan

Minato đã dành ra ba năm để nghiên cứu sáng tạo ra Rasengan thông qua việc quan sát Vĩ Thú Ngọc. Đây là cảnh giới cao nhất của Biến đổi Hình thái và được thực hiện hoàn toàn không cần thủ ấn. Thay vì niệm/kết ấn, chakra xoay liên tục được tập trung cao độ dưới hình dạng một khối cầu trong lòng bàn tay người sử dụng, gây ra lực phá hoại khủng khiếp lên đối tượng khi xảy ra tiếp xúc vật lý.

Là người khai sinh ra nhẫn thuật, Minato hiển nhiên lĩnh hội rất sâu sắc Rasengan, có thể hình thành khối cầu chỉ bằng một tay và phiên bản thông thường của anh có kích thước lớn hơn nhiều Rasengan được thi triển bởi các nhân vật khác (khoảng chừng bằng một Đại Ngọc La Toàn Hoàn hay còn lớn hơn nữa khi kích hoạt trạng thái Vĩ thú). Minato tính kết hợp Rasengan với nguyên tố chakra của mình, nhưng việc này quá khó và anh vẫn chưa thể tiến xa hơn được trước khi mất.

Nhẫn thuật Không gian – Thời gian

Minato còn nổi tiếng với khả năng sử dụng Phi Lôi Thần thuật, thậm chí anh còn sử dụng nó nhuần nhuyễn hơn cả người sáng tạo ra chiêu thức là Hokage Đệ Nhị. Chính chiêu thức này đã mang đến cho anh biệt hiệu “Tia Chớp Vàng của Làng Lá”.

Tuyệt kỹ này cho phép anh lập tức di chuyển đến vị trí của bất cứ đối tượng nào đã được đánh dấu, dù đó là một sự vật, địa điểm hay con người. Minato cũng có thể dịch chuyển cùng người khác với điều kiện anh phải bổ sung chakra cho cuộc vận chuyển. Anh không nhất thiết phải đi cùng với đối tượng bị dịch chuyển nên có thể dùng Phi Lôi Thần thuật dịch chuyển các đòn tấn công của kẻ địch để phòng thủ.

Thủ lý kiếm thuật

Minato có một bộ kunai ba lưỡi riêng để chiến đấu. Anh thường phi cây kunai về phía kẻ địch hoặc cầm/ngậm chúng để đấu tay đôi. Công dụng chính của bộ kunai nằm ở những dấu Phi Lôi Thần Thuật được viết trên cán, cho phép Minato dịch chuyển đến bất cứ vị trí nào cây kunai được ném tới, kể cả khi chúng đang trên không trung.

Minato thường mang theo một số lượng kunai lớn ra chiến trường và rải rác chúng khắp nơi để anh có thể thoải mái di chuyển. Những chiến thuật sử dụng kunai không đòi hỏi sự chính xác cao, song Minato vẫn nhắm chuẩn đích và thường kết hợp thời gian và đích đến của những cú phi dao cho những chuyển động phức tạp.

Thuật Phong Ấn

Minato đã học được rất nhiều thuật phong ấn từ Jiraiya và Kushina. Chiêu đặc biệt nhất chính là Phong Ấn Bát Quái anh đã dùng để phong ấn nửa Âm của Cửu Vĩ vào trong Naruto, cho phép một ít chakra của Cửu Vĩ thoát ra và hòa quyền một cách tự nhiên với chakra của Naruto.

Hiểu rằng phong ấn sẽ yếu dần theo thời gian, Minato tạo ra một chiếc chìa khóa có tác dụng đẩy nhanh hay đảo ngược quá trình này lại. Để chắc ăn, anh đã trộn chakra của mình và Kushina vào trong phong ấn để khi một số điều kiện được thỏa mãn, họ có thể hỗ trợ Naruto điều khiển Cửu Vĩ và gặp lại con trai sau khi chết. Minato đã kết hợp dấu Phi Lôi Thần Thuật vào cả phong ấn của Kushina và Naruto, cho phép bản thân có thể lập tức đến ứng cứu vợ con.

Minato cũng có thể thi triển Thi Quỷ Phong Tận và hiểu đủ sâu để biết thuật này sẽ không thể phong ấn toàn bộ chakra của Cửu Vĩ. Với Khế Ước Phong Ấn, Minato đủ sức cướp quyền kiểm soát bất cứ sinh vật nào do đối thủ triệu hồi. Anh cũng có thể chuyển giao vĩ thú giữa các chủ thể với nhau.

Trạng thái Vĩ thú

Minato trở thành chủ thể nửa Dương của Cửu Vĩ một thời gian ngắn trước khi chết, mặc dù phải mãi đến tận khi chuyển sinh anh mới có thể đem nó ra sử dụng. Khác với hầu hết những vĩ thú khác, Cửu Vĩ hoàn toàn hợp tác với Minato, cho phép anh lập tức đi vào trạng thái Chakra Cửu Vĩ trước sự kinh ngạc của những người chứng kiến.

Hình thái của Minato hơi tối màu hơn và có họa tiết ấn chú khác với của Naruto, nhưng về cơ bản họ giống hệt nhau cả về ngoại hình lẫn khả năng. Anh có thể sử dụng những cánh tay chakra, đi vào trạng thái Vĩ Thú, tạo ra Vĩ Thú Ngọc và thi triển tất cả những tuyệt chiêu mình thường dùng với uy lực mạnh hơn gấp bội. Tuy nhiên, Minato sau đó đã bị Hắc Zetsu thừa cơ cướp mất sức mạnh này.

Tiên nhân thuật

Minato đã từng học Tiên thuật trên núi Myōboku, bao gồm cách tập trung năng lượng tự nhiên để hỗ trợ cho các thuật của mình và cách khởi động Trạng thái Tiên nhân bằng cách tích lũy năng lượng tự nhiên trong cơ thể.

Anh thừa nhận rằng bản thân không thành thạo về tiên thuật lắm vì anh chưa bao giờ sử dụng nó trong thực chiến trước đây do phải tiêu tốn nhiều thời gian cho quá trình chuẩn bị – một điều trái ngược hẳn so với phong cách chiến đấu đánh nhanh thắng nhanh sở trường của anh.

Dẫu vậy, Minato vẫn có thể cân bằng hoàn hảo năng lượng tự nhiên với chakra của mình, khiến cho Trạng thái Tiên nhân chỉ xuất hiện dưới dạng vệt đậm dưới mắt mà không làm biến đổi thân thể, hơn nữa tốc độ phát động Trạng thái Tiên nhân của anh cũng rất nhanh.

Trí thông minh

Minato là một thiên tài xuất chúng ngay từ khi còn nhỏ. Anh đã đạt được số điểm cao nhất trong lịch sử Học viện Nhẫn giả của làng Lá. Trong số tất cả các ninja được cử đi cứu Kushina, chỉ có mình anh nhận ra dấu vết cô để lại.

Trong khi chiến đấu, anh có thể dễ dàng nắm bắt cơ chế cơ bản của mỗi tuyệt kỹ sau một lần quan sát và suy ra điểm mạnh yếu của nó. Óc quan sát tốt giúp Minata dễ dàng đoán được kế hoạch và mục đích chiến đấu của địch dựa trên những bằng chứng ít ỏi. Sau khi đã phân tích xong, Minase sẽ nhanh chóng phản công với độ chính xác cao, tấn công vào những yếu điểm ở thời điểm thích hợp nhất.

Khi trở thành Hokage, Minato đề phòng những mối nguy hiểm rình rập Làng Lá bằng cách tạo ra một mạng lưới những địa điểm được đánh dấu xung quanh làng, bao gồm ít nhất hai nơi trú ẩn, và sau đó truyền lại nhẫn thuật không gian-thời gian này cho Đội Cận Vệ của Hokage.

Tiểu sử nhân vật: Jiraiya là ai?

Giới thiệu nhân vật

Jiraiya (自来也) là một trong những Sannin (Tiên nhân) của Làng Lá. Nổi danh là một ẩn sĩ dê già với sức mạnh vượt trội, Jiraiya chu du vòng quanh thế giới để thu thập những tri thức hữu dụng cho bạn bè của ông, cũng như phục vụ cho quá trình ông viết tiểu thuyết và thế giới nói chung – những tri thức có thể được truyền lại cho con đỡ đầu và học trò cuối cùng của ông là Uzumaki Naruto.

Tính Cách

Jiraiya nhìn chung là một người dễ tính và vui vẻ, thích bông đùa dù biết sẽ bị ‘ném gạch’ rồi lại cười tỉnh queo ngay sau đó. Ông thường tỏ ra tự mãn và ích kỉ trước mặt người khác, khiến họ ức chế để rồi làm họ nguôi ngoai với khiếu hài hước của mình.

Kể cả lúc tham chiến, ông cũng không quên thực hiện một màn giới thiệu hào nhoáng trong lúc tạo dáng như kịch kabuki. Bạn bè và kẻ thù thích thú trước sự kì quặc của Jiraiya, đó là sự bắng nhắng bên ngoài của một ninja cực kì tài giỏi.

Ông còn tự nhận mình là một tên “dê chúa” không ai sánh bằng. Sở thích của Jiraiya là nhìn trộm phụ nữ tắm với một niềm đam mê không giấu diếm, thậm chí ông còn lấy làm tự hào khi mình chẳng mấy khi bị bắt quả tang. Vậy nhưng Jiraiya lại rất ghét bị Naruto gọi là “Tiên nhân Háo Sắc” trước mặt người khác.

Từ những “tư liệu” thu thập được từ việc nhòm trộm, Jiraiya đã sáng tác nên một series tiểu thuyết người lớn có tên “Thiên Đường Tung Tăng” (Icha Icha). Series này được dựa trên chính kinh nghiệm tình trường của ông, cơ bản là những lần ông bị Tsunade cự tuyệt, được kể lại một cách hài hước. Nó đã đem về cho Jiraiya số tiền bản quyền kếch xù, nhưng vẫn không ngăn được ông lén lấy tiền của Naruto bất cứ khi nào có thể để đi mua rượu hay gái gú.

Trong anime, Naruto đã giúp ông sáng tác một cuốn trong series Icha Icha mà không ai hay biết, chứng tỏ khả năng viết lách như người lớn của Naruto hoặc có chăng là tài viết văn của Jiraiya còn chẳng bằng một đứa nhóc.Tsunade đoán là ý thứ hai bởi bà nhớ bài báo cáo hồi nhỏ của Jiraiya rất dở và nguệch ngoạc hình minh họa bằng bút sáp.

Tính mê gái của Jiraiya đã không ít lần đem lại rắc rối cho ông. Ông vốn không có ý định đào tạo Naruto, nhưng sau đó đã gật đầu cái rụp sau khi bị cậu “mê hoặc” bằng thuật Sexy và suốt ngày yêu cầu Naruto xài thuật đó trong thời gian huấn luyện. Hồi nhỏ, Jiraiya từng nhìn trộm Tsunade tắm và bị bà bẻ gãy tay, sáu cái xương sườn và kha khá nội tạng. Ông coi việc không thể thu phục trái tim của Tsunade là thất bại lớn nhất đời mình.

Tuy nhiên, đằng sau vẻ ngoài thích bông đùa và ồn ã ấy, Jiraiya luôn chất chứa nỗi ngờ vực và tự ti rằng cuộc đời ông chỉ là một chuỗi những điều thất bại không hơn không kém. Ông đã không thể cứu Orochimaru và bảo vệ Hokage Đệ Tam và Đệ Tứ.

Jiraiya xem những thành tựu của mình chỉ là thứ nhỏ nhặt so với bốn Hokage đầu tiên của làng Lá và hy vọng sẽ được chết huy hoàng như họ. Trước giờ phút lâm chung, Jiraiya cảm thấy tự hào trước cái chết anh dũng của mình: “tuy chỉ hơi hào nhoáng thôi, nhưng vẫn là hào nhoáng”.

Ông cũng rất trung thành với Làng Lá dù chẳng mấy khi ở đây. Ông đe dọa sẽ giết chết người bạn lâu năm Tsunade nếu bà dám phản bội lại làng, không ngần ngại giao đấu với Orochimaru để trả thù cho cái chết của sư thầy hay người học trò cũ Nagato sau khi biết y chính là thủ lĩnh thực sự của Akatsuki, dù trong lòng cực kì đau khổ.

Jiraiya cảm thấy tính cách của mình không hợp để trở thành một Hokage, bởi ông không phải người có tinh thần trách nhiệm và cũng không xứng đáng với vinh dự này sau khi đã phạm quá nhiều sai lầm trong quá khứ.

Một trong ưu điểm nữa của Jiraiya chính là tinh thần bất khuất và không bao giờ chịu từ bỏ của ông. Sau bao lần nếm mùi thất bại, ông vẫn quyết không rơi vào tuyệt vọng mà tiếp tục tiến lên phía trước như cách một ninja phải thế. Ngay cả khi bị thương nặng, ý chí kiên cường của Jiraiya đã khiến tim ông đập trở lại để truyền lại tin nhắn cuối cùng đến Làng Lá.

Dẫu ít khi thể hiện ra ngoài, nhưng Jiraiya có một niềm tin mãnh liệt vào hòa bình và mong muốn tìm ra cách hóa giải vòng tròn thù hận đang làm hoen ố thế giới này, tiếc rằng ông đã ra đi trước khi kịp tìm ra câu trả lời.

Có lẽ đóng góp to lớn nhất của Jiraiya chính là trong vai trò của một người thầy. Nghe theo lời tiên tri rằng một ngày mình sẽ tìm thấy vị cứu tinh của thế giới, Jiraiya đã đào tạo 3 trong số những shinobi mạnh nhất lịch sử là Nagato, Minato và Naruto, truyền cho họ niềm tin về tinh thần của shinobi.

Dẫu lúc đầu có hơi hà khắc với Naruto, song Jiraiya thực sự cảm mến cậu và dành thời gian để quan tâm tới Naruto như một bậc phụ mẫu thay vì quan hệ sư môn thông thường. Trước lúc lâm chung, Jiraiya thầm nghĩ trong cuộc đời đầy lầm lạc của mình, thời gian ông ở bên Naruto khiến mọi thứ đều trở nên xứng đáng và cậu sẽ là người cứu rỗi thế giới.

Ngoại Hình

Jiraiya là một người đàn ông cao lớn và cường tráng với nước da trắng. Ông có một cái mụn cóc ở bên trái mũi và mái tóc nhọn màu trắng dài đến hông thường được ông buộc đuôi ngựa, với hai bên tóc mai dài đến vai.

Phía dưới mắt của Jiraiya là hai đường kẻ màu đỏ, độ dài của chúng tỉ lệ thuận với tuổi tác của Jiraiya, tới khi ông bước sang tuổi trung niên thì chúng đã kéo dài đến tận cằm. Ông có một vết sẹo lớn ở ngực sau khi đụng độ Naruto trong trạng thái Vĩ Thú phiên bản 2.

Trang phục thường nhật của Jiraiya gồm có một chiếc áo kimono ngắn, màu xanh rêu và quần dài đồng màu được sắn cao quá bắp chân, áo giáp lưới ở cổ tay và cổ chân. Ông vận một chiếc áo haori đỏ với hình tròn màu vàng ở mỗi bên vạt áo, thắt lưng đen, đeo giáp tay và đi guốc gỗ geta của Nhật màu đỏ.

Jiraiya thường vác sau lưng một cuộn giấy lớn. Tay ông có hình xăm và  đầu ông đeo chiếc băng bảo vệ trán có sừng nhọn với chữ kanji “Dầu” (油, abura), cho thấy mối liên hệ của ông với núi Myōboku.

Khả Năng

Cũng giống như những môn đệ khác của Hokage Đệ Tam, Jiraiya là một shinobi (ninja) cừ phách, được mệnh danh là một trong những ninja mạnh nhất thuộc thế hệ mình và của Làng Lá. Phải đến tận Đại Chiến Nhẫn Giả lần thứ II, kỹ năng thần sầu của ông mới được nhiều người biết đến. Ông cùng với Orochimaru và Tsunade được Hanzō vinh danh là “3 Tiên Nhân của Làng Lá”, một tước hiệu cho thấy họ vượt xa tộc Uchiha và Thất Kiếm Sương Mù.

Hoshigaki Kisame tin rằng mình còn kém xa Jiraiya, còn Uchiha Itachi thì nghĩ nếu hai bên đấu 1-1 mà không có sự hậu thuẫn từ bên ngoài thì giỏi lắm anh ta chỉ có thể giằng co qua lại chứ không thể kết liễu ông. Với khả năng cấp jōnin, Jiraiya đã 3 lần được mời làm Hokage và nếu ông sống lâu hơn thì sẽ có lần thứ 4.

Một ninja cũng rất đáng gờm như Kakashi cảm thấy việc ai đó đơn thương độc mã khuất phục Jiraiya là một điều gần như không tưởng. Tuy rốt cuộc Jiraiya cũng bỏ mạng dưới tay thành viên mạnh nhất của Akatsuki là Nagato, y nói mình hẳn đã thất bại nếu Jiraiya biết được bí mật đằng sau Lục Đạo Pain.

Sức mạnh vật lý & Chakra

Lượng chakra dồi dào đã cho phép Jiraiya triệu hồi Gamabunta và sử dụng Hiền Nhân Thuật. Jiraiya rất giỏi điều khiển chakra, ông đủ sức thi triển hai Rasengan (La Toàn Hoàn) cùng lúc và khắc một tin nhắn bằng chakra kể cả khi dòng chakra đang bị rối loạn. Ông cũng truyền cho Naruto cách hóa giải Ảo Thuật bằng cách điều khiển chakra.

Sức mạnh vật lý của Jiraiya ít được thể hiện trong manga, ngoại trừ việc ông đã đánh văng Naruto bay đi vài mét chỉ bằng một cái chạm nhẹ bằng đầu ngón tay. Trong anime, ông có thể nhấc bổng và quăng những tảng đá lớn hoặc đá bay vài con chó tách ra từ con chó khổng lồ nhiều đầu do Pain điều khiển.

Jiraiya cũng có sức chiến đấu bền bỉ, ông đã chịu đựng rất nhiều thương tổn trước khi thực sự gục ngã. Ông hầu như không xây xát gì khi lãnh trọn một cú đá toàn lực của Might Guy hay trước đòn tấn công của những con thú triệu hồi cỡ Gamabunta.

Jiraiya mới chỉ suýt đến cửa tử trong 2 lần: khi đấu với trạng thái 4 Đuôi của Uzumaki Naruto và trước sức mạnh đáng sợ của Tsunade, ngay cả Nagato với Lục Đạo Pain cũng phải vất vả lắm mới đả thương được thầy cũ của mình.

Nhẫn thuật (Ninjutsu)

Jiraiya là một thiên tài về nhẫn thuật, được mệnh danh là Cóc Tiên Nhân do mối quan hệ khăn khít của ông với những chú cóc ở núi Myōboku. Ông đặc biệt có thể triệu hồi cóc cùng mình chiến đấu hoặc triệu hồi thực quản của chúng nhằm nuốt trọn lấy cả một khu vực và giới hạn chuyển động của bất cứ ai trong đó.

Ngoài ra ông còn rất nhiều kĩ năng liên quan tới cóc khác, bao gồm: phun dầu ra từ miệng, ẩn thân trong bóng của mục tiêu để thoải mái điều khiển hoạt động của y hoặc sai những chú cóc đột nhập vào các khu vực nhạy cảm.

Jiraiya cũng có thể kéo dài và điều khiển mái tóc của mình khống chế và tiêu diệt mục tiêu hoặc cuốn xung quanh ông tạo thành một lớp bảo vệ chắc chắn, sẵn sàng tấn công bất cứ kẻ nào dám lại gần. Ông có thể thi triển Rasengan và phiên bản cấp cao Đại Ngọc La Toàn Hoàn.

Ông cũng tinh thông thuật Phong Ấn, có thể lập tức suy luận ra cách vận hành Bát Quái Phong Ấn của Naruto ngay khi nhìn thấy nó trên bụng cậu. Ông cũng nhanh chóng nhận ra Orochimaru đã sử dụng Phong Ấn Ngũ Hành để làm náo động dòng chảy chakra của Naruto và nhanh chóng giúp cậu giải ấn. Sau đó, ông còn có thể sáng chế một phương pháp để trấn áp ảnh hưởng của Cửu Vĩ lên Naruto bằng cách dán Bùa Áp Chế Chakra lên người cậu.

Ngoài khả năng chiến đấu, Jiraiya còn có kỹ năng trong việc dựng các màn chắn bảo vệ, ví như dựng màn chắn cho phép ông phát hiện tất cả các chuyển động trong bán kính lớn hay các kết giới cóc bao quanh thân thể để phòng vệ.

Jiraiya có thể sử dụng Hỏa Độn, Thổ Độn, Thủy Độn, Phong Độn và Âm Độn. Với Hỏa Độn, ông có thể bắn ra một tia lửa và kết hợp với dầu cóc để tăng sức sát thương của đòn tấn công. Ông dùng Thổ Độn để tạo ra đầm lầy ngay dưới chân đối thủ và kìm hãm chúng.

Hiền nhân thuật

Tốc độ, sức bền và sức mạnh vật lý của Jiraiya đã tăng lên rất nhiều sau khi được Fukasaku truyền thụ cho Hiền nhân thuật. Ông cũng có thể dùng nó để tăng cường các nhẫn thuật khác, tỉ dụ như tạo ra Siêu Đại Ngọc La Hoàn Toàn.

Trước đó, ông buộc phải đi vào trạng thái Tiên Nhân mà ông không thực sự tường tận. Điều này khiến ngoại hình của Jiraiya nom giống như một con cóc với nhiều mụn cóc và tứ chi có màng. Jiraiya không thích bộ dạng của mình lúc này vì nó không có sức hút với phụ nữ, dù chân cóc giúp ông bật nhảy tốt hơn.

Jiraiya phải liên tục bổ sung nguồn năng lượng tự nhiên để duy trì trạng thái Tiên Nhân, nhưng đây không phải một việc dễ dàng trong lúc tham chiến. Ông đã giải quyết yếu điểm này bằng cách triệu hồi Fukasaku và Shima, rồi dung hợp cả hai vào cơ thể mình, nhờ hai chú cóc này giúp ông thu thập năng lượng tự nhiên.

Ngoài ra, Fukasaku và Shima có thể phối hợp tấn công với Jiraiya, ví như  trong chiêu Tiên pháp: Ngũ hữu vệ môn, hay giúp thi triển các thuật mà ông không biết làm như ảo thuật.

Trí tuệ

Jiraiya là một chiến binh sáng suốt nhanh trí. Khả năng đặc biệt của ông là thu thập tin tình báo. Ông có cả một mạng lưới điệp viên đặt tại Ngũ Quốc để có thể thu thập thông tin về một cá nhân hay tổ chức nào đó vì lợi ích của phe mình. Công việc này giúp ông có được óc quan sát tỉ mỉ và sắc sảo.

Mỗi khi lâm trận, Jiraiya sẽ quan sát mọi hành động của đối phương, sau đó đưa ra giả thuyết về cách làm cũng như lý do cho hành động đó, cuối cùng áp dụng những giả thiết đó vào trong trận chiến. Trí nhớ của ông cũng rất tốt, trong lúc hấp hối, ông đã kịp để lại một tin nhắn được mã hóa bằng số trang trong cuốn Thiên Đường Tung Tăng, với chữ đầu tiên ở mỗi trang tạo thành tin nhắn.

Thông số

Databook Nhẫn thuật Thể thuật Ảo thuật Trí thông minh Sức mạnh Tốc độ Sức bền Thủ thuật Tổng
Thứ ba 5 4.5 3 4.5 4.5 4.5 5 4.5 35.5

Tiểu sử nhân vật: Hyūga Hinata là ai?

Giới thiệu nhân vật

Hyūga Hinata (tên tiếng Nhật: うずまきヒナタ,日向) là một kunoichi kiêm cựu tộc trưởng của tộc Hyūga. Phụ thân của Hinata đã truất quyền thừa kế của cô sau khi nhận thấy với bản tính nhu mì của mình, Hinata sẽ khó lòng dẫn dắt được bộ tộc hay trở thành một ninja thực thụ.

Tuy nhiên, bằng lòng kiên trì và quyết tâm không chịu đầu hàng mà cô học được từ Uzumaki Naruto,  Hinata đã trở nên mạnh mẽ hơn, dám từng bước thay đổi chính mình trong quá trình làm thành viên của Đội 8. Vài năm sau cuộc chiến, Hinata đã kết hôn với Naruto và sinh cho anh hai người con.

Tiểu Sử

Hinata là trưởng nữ của Hyūga Hiashi. Thuở nhỏ, Hinata đã suýt bị Ninja Trưởng của Làng Mây bắt cóc, hắn đã giả vờ tới thăm Làng Lá với lý do ký kết hòa ước giữa hai làng. Hiashi giết chết hắn và cứu Hinata, đặt viên đá đầu tiên cho một chuỗi sự kiện sau đó, được gọi là “Biến cố Hyūga”.

Là con gái của người đứng đầu Tông gia tộc Hyūga, Hinata từ nhỏ đã được nuôi dưỡng để trở thành tộc trưởng tiếp theo và gia đình cũng rất kì vọng vào cô bé. Tuy nhiên, phụ thân của Hinata đã sớm ngờ rằng Hinata sẽ không phù hợp để trở thành người kế nhiệm ông, khi chứng kiến Hinata chật vật trước chế độ tập luyện hà khắc do ông đặt ra, và đặc biệt là tính cách nhút nhát khiến cô không thể thực sự bứt phá.

Ông bắt đầu suy xét lại quyền thừa kế của cô sau khi nhận thấy tài năng vượt trội đang dần bộc lộ ở Hanabi, em gái của Hinata. Trong anime, Hinata và Hanabi đã đọ sức với nhau để quyết định người sẽ một ngày dẫn dắt tộc Hyūga. Khác với Hanabi, Hinata không muốn đả thương em gái nên đã bị đánh bại trước sự thất vọng của phụ thân. Hinata sau đó bị truất quyền thừa kế và được Kurenai Yūhi nuôi dưỡng trở thành một genin.

Ngày nhập học đầu tiên ở Học Viện Làng Lá, Hinata đã bị ba đứa nhóc bắt nạt vì đôi mắt lạ thường của cô bé. Lúc bấy giờ dù không hề quen biết Hinata, Naruto đã lập tức đứng ra bảo vệ cô, nhưng do 1-chọi-3 nên cậu đã bị đám nhóc kia đánh cho bất tỉnh, lại còn bị chúng phá nát bươm chiếc khăn đỏ đang đeo.

Sau khi Naruto tỉnh lại, Hinata cảm ơn sự giúp đỡ của cậu và trả lại khăn cho Naruto, nhưng Naruto đã bảo cô giữ lấy nó. Kể từ đó trở đi, Hinata bắt đầu âm thầm dõi theo Naruto, từ đó biết được khao khát muốn được công nhận của Naruto và những vất vả cậu phải trải qua để vượt lên sự kì thị và ánh mắt coi thường của dân làng.

Mặc dù vậy, Naruto không bao giờ mất niềm tin vào bản thân hay từ bỏ ước mơ trở thành Hokage. Hinata được truyền cảm hứng và bắt đầu noi theo Naruto, học theo sự kiên định không chịu đầu hàng của cậu, như một nỗ lực để được phụ thân cô công nhận. Trong anime, các bô lão tộc Hyūga đã nhận ra tình cảm mà Hinata dành cho Naruto và cảnh báo cô hãy tránh xa cậu ra.

Tính cách nhân vật

Hinata là một cô gái nhã nhặn và lịch sự, luôn gọi người khác bằng kính ngữ. Cô tốt bụng, vị kỷ và quan tâm tới cảm xúc cũng như sức khỏe của người khác. Hinata không thích tranh cãi bất kể vì lý do gì. Đây là nguyên nhân khiến Hinata luôn có vẻ rụt rè và cả thẹn, lòng tốt bụng thái quá đã khiến cô bé không dám phản ứng lại vì sợ làm mếch lòng đối phương.

Những nỗ lực của ông Hiashi để ép con gái thay đổi tâm tính càng làm tình hình trở nên tồi tệ hơn, khiến Hinata ngày một thiếu tự tin và hay xấu hổ, vì chính bản thân cô cũng không tin vào suy nghĩ và ý kiến của bản thân. Tuy nhiên, dẫu đã bị truất quyền thừa kế, Hinata vẫn rất yêu gia đình mình, cô đã “đồng ý” lời cầu hôn của Toneri để cứu Hanabi, dù biết điều đó sẽ khiến Naruto đau lòng.

Nhân sinh quan của Hinata đã có bước chuyển biến rõ rệt sau khi cô được chỉ định vào Đội 8. Trong khi ông Hiashi và hầu hết các thành viên của tộc Hyūga đã xem Hinata như một kẻ bỏ đi, Đội 8 coi cô như một thành viên quan trọng với những thế mạnh riêng:

Yūhi Kurenai biết được nền giáo dục hà khắc của gia đình Hinata và cách cô bé chật vật cải thiện bản thân nên thường tập trung vào những thành công thay vì thất bại của Hinata; Inuzuka Kiba rất hay che chở cho Hinata, mong muốn tránh cho cô khỏi nguy hiểm và thường vui vẻ trêu chọc tính cách của cô; Aburame Shino, dù còn ít nói hơn cả Hinata, tin vào khả năng của cô và không ngần ngại khẳng định điều đó với người đồng đội.

Lúc mới gia nhập Đội 8, Hinata nhận thấy mình đang quá ỷ lại vào đồng đội, cô cảm thấy không thoải mái khi bản thân lúc nào cũng chực cầu cứu họ vào những lúc khó khăn. Họ là một trong những lý do khiến Hinata quyết tâm thay đổi bản thân để có thể hỗ trợ đồng đội thay vì trở thành gánh nặng cho họ.

Tuy nhiên, hơn hết thảy, nguồn động lực chính thôi thúc Hinata chính là Uzumaki Naruto, người mà cô đã đem lòng cảm kích ngay từ lần đầu gặp mặt. Hinata lúc đầu chú ý đến lòng tốt của Naruto, và sau đó là bởi những điểm tương đồng mà cô nhận thấy giữa cả hai: Naruto có một tuổi thơ cô đơn thiếu vắng cha mẹ, một số phận còn bi thảm hơn cả những hục hặc giữa hai cha con Hinata; cậu mong muốn được ai đó chú ý và công nhận, cũng như Hinata muốn được ông Hiashi tin tưởng.

Nhưng trong khi Hinata mất niềm tin vào bản thân và để thiên hạ coi là kẻ mãi mãi thất bại,  Naruto luôn tin vào chính mình và biết rằng anh có thể hoàn thành bất cứ việc gì nếu đủ cố gắng. Cô cực kì ngưỡng mộ lòng dũng cảm của Naruto và sau đó đã đem lòng yêu anh, thành thử mỗi khi ở cạnh Naruto là cô lại càng xấu hổ đến không nói nên lời. Mặc dù hầu hết mọi người đều biết tại sao Hinata hành xử như vậy trước Naruto, bản thân Naruto lại xem đây chỉ là một phần tính cách thường nhật, có phần “kì quặc” của Hinata.

Lấy phương châm không bao giờ từ bỏ của Naruto làm kim chỉ nam để tự thay đổi bản thân, Hinata thôi trốn tránh mà trực tiếp đối mặt với những cuộc xung đột. Sau mỗi lần thất bại, cô sẽ lại gượng dậy và tập luyện nhiều hơn để tránh những thất bại về sau.

Lòng quyết tâm của Hinata ban đầu chỉ bùng lên mỗi khi có Naruto bên cạnh, nhưng điều đó cũng đã làm thay đổi suy nghĩ của Naruto về cô. Tới hết Phần I, ý chí quật cường ấy đã trở thành một phần của Hinata, kể cả khi không có Naruto ở bên, nhờ đó cô đã lấy lại được niềm tin của phụ thân và gia tộc.

Từ Phần II trở về sau, Hinata đã trở thành một ninja tài giỏi của Làng Lá, một người có thể thoải mái bày tỏ chính kiến, giàu tinh thần trách nhiệm trên chiến trường và trong lúc làm nhiệm vụ, sẵn sàng đặt cược mạng sống vì bạn bè và thôn làng.

Tuy nhiên, Naruto vẫn mãi là động lực chính của cô: để bảo vệ cậu, cô đã một mình đối mặt với Pain dù biết mình sẽ thua; cô xông xáo hơn trong cuộc Đại Chiến vì mục tiêu của Quân Đồng Minh là bảo vệ Naruto, cô thậm chí đã vì anh mà đối đầu với Ōtsutsuki Kinshiki và Momoshiki để rồi bị bắt làm con tin.

Hai năm sau cuộc chiến, Naruto cuối cùng cũng nhận ra tình cảm mà Hinata dành cho anh, rằng cô là người duy nhất đã luôn tin tưởng và sát cánh bên anh. Anh đã đáp lại tình cảm của cô trong niềm hạnh phục tột độ của Hinata.

Khi Naruto trở thành Hokage, Hinata vẫn tiếp tục ủng hộ Naruto và những trọng trách nặng nề mà anh phải gánh vác, cô cố gắng chăm sóc Boruto và Himawari dẫu chồng thường xuyên vắng nhà, và bản thân cô cũng mong anh ở nhà nhiều hơn. Là một người vợ và một người mẹ, cô yêu thương và vun vén cho gia đình, nhưng một mặt cũng rất nghiêm khắc và kiên quyết.

Những nguyên tắc của Hinata khiến cô trở nên hung dữ và dễ nổi cáu mỗi khi các thành viên trong nhà phạm lỗi, cô dễ dàng lập lại trật tự trong gia đình và thẳng tay trừng phạt kẻ mắc lỗi. Cô cũng nhận ra Boruto cũng giống Naruto, đều muốn chứng tỏ năng lực của bản thân và rằng cô cần phải tin vào khả năng tự lập của các con.

Ngoại hình nhân vật

Hinata sở hữu Byakugan (Bạch Nhãn) nên có đôi mắt trắng dã không có đồng tử (mắt của người tộc Hyūga trong anime có chút ánh tím).  Cô có mái tóc màu tím than và thường để mái bằng. Trong phần I, Hinata để tóc ngắn, mái bằng ngay trên trán, với hai bên tóc dài đến cằm, bao lấy khuôn mặt. Sang đến phần II, tóc của cô đã dài đến giữa lưng, còn phần tóc mai hai bên thì chạm đến vai.

Trong movie The Last: Naruto, cô để tóc dài quá hông. Hinata ở độ tuổi trưởng thành thường cột tóc đuôi ngựa, nhưng sau đó đã chuyển sang kiểu đầu bob dài đến vai. Thân hình của cô sang đến Phần II đã trở nên gợi cảm hơn, với những đường cong quyến rũ. Naruto và Ōtsutsuki Toneri nhận xét Hinata lúc trưởng thành là một người cực kì xinh đẹp.

Trong Phần I, Hinata thường mặc một chiếc áo khoác có mũ màu kem, với biểu tượng hình ngọn lửa ở tay áo và lông ở viền. Cô mặc quần màu xanh hải quân và cột băng bảo vệ trán ở cổ. Trong Phần II, cô mặc một chiếc áo khoác rộng, có mũ, màu tím xen kem bên ngoài áo giáp lưới.

Cô mặc quần màu tím than, đi xăng-đan đế bằng màu đen và đổi dải băng bảo vệ trán từ xanh sang đen. Cô chuyển sang đồng phục của Làng Lá là chiếc áo phao bộ binh màu xanh cùng các quần áo chuẩn chỉnh khác trong Đại Chiến Nhẫn Giả Lần Thứ IV, nhưng không đeo băng bảo vệ trán.

Trong anime movie The Last: Naruto, trang phục lúc lên đường làm nhiệm vụ của Hinata gồm một chiếc áo cánh hở nách tựa kimono màu tím nhạt với những đường sọc thẳng và thắt lưng obi to bản, màu tím đậm ở hông. Cô mặc một chiếc quần ngắn màu xanh navy và tất lưới dài đến đùi, đi bốt đế cao màu đen thay vì đôi xăng-đan ninja thường thấy.

Trang phục của cô tôn dáng hơn và không còn quá “kín cống cao tường” như trước. Chiếc băng bảo vệ trán cũng không thấy được sử dụng. Phục trang của Hinata sau đó khá đa dạng, thay đổi giữa quần áo giản đơn lúc bình thường tới trang phục cho từng dịp. Lúc bị ép cưới Toneri, cô đã mặc một chiếc áo rộng màu đen/xám, eo thắt khăn màu xám.

Phía dưới lễ phục là quần thụng ngắn, tất ren và xăng đan đen. Cô còn đội một chiếc khăn đội đầu màu đen, phía dưới mạng che mặt cô dâu màu đen/vàng, tai đeo khuyên hình trăng khuyết. Cô mặc một bộ kimono truyền thống màu trắng trong ngày cưới Naruto.

Sang tới Boruto: Naruto the Movie, Hinata thường xuyên mặc một chiếc áo khoác ngắn tay màu tím nhạt, áo dài tay màu trắng bên trên áo màu hồng, quần soóc màu nâu nhạt và bốt tím hở ngón. Trong manga Boruto, Hinata đeo một chiếc vòng cổ, bên trên có biểu tượng của nhà Uzumaki.

Khả Năng

Tính cách nhu mì, thiếu quyết đoán của Hinata thường ảnh hưởng không tốt đến thành tích của cô trong các buổi tập luyện của tộc Hyūga, khiến cô rốt cuộc bị phụ thân truất quyền thừa kế vì bản thân quá yếu ớt và không xứng đáng với trọng trách của một nữ tộc trưởng.

Sau khi tốt nghiệp Học viện Làng Lá, cô chuyên tâm tập luyện để trở nên mạnh hơn và thường xuyên được đồng đội khen ngợi vì sự tiến bộ vượt bậc trong kĩ năng và tâm lý vững vàng. Hinata do đó trở nên quyết đoán hơn khi phải đối diện với những mối đe dọa lớn vì lợi ích của người khác, ví như lao vào đấu với Thiên Đạo của Pain để bảo vệ Naruto, khiến hắn cũng phải công nhận sức mạnh của cô.

Trong Đại Chiến Nhẫn Giả Lần thứ IV, cô thậm chí có thể tự bảo vệ chính mình và Neji trên chiến trường. Hai năm sau cuộc chiến, Ōtsutsuki Hamura nhận ra Hinata chính là Bạch Nhãn Công Chúa, cho thấy vai trò quan trọng của cô trong việc phá hủy Thiên Sinh Nhãn (Tenseigan).

Tiềm lực và Khả năng điều khiển Chakra

Trong Phần I, Hinata đã bắt đầu tập luyện để tăng cường khả năng điều khiển chakra. Một trong những thành quả đầu tiên của khóa tập huấn là khả năng tạo ra Thủy Châm bằng cách tập trung chakra gần các nguồn nước và biến chúng thành đạn dược.

Trong anime Phần II, khả năng của Hinata đã ngang ngửa với một ninja Y thuật, do đó cô đã được chọn để hỗ trợ Sakura, Ino và Shizune thực hiện Kết giới Tứ Phương Trận.  

Hinata cũng thừa kế một ít chakra của Hamura do cô là một trong những thành viên của Tông gia tộc Hyūga. Nguồn chakra dồi dào và tinh khiết của cô thu hút Ōtsutsuki Toneri và sau đó hắn còn truyền chakra của mình sang Hinata.

Chakra của Hinata vì thế chuyển từ màu xanh sang tím, cho phép cô có khả năng đặc biệt để hóa giải Thiên Sinh Nhãn. Cô thậm chí đã gần như ngay tức khắc bổ sung lại lượng chakra cực lớn của Naruto mà không hề tỏ ra mệt mỏi, trong khi ngay cả một ninja lão luyện như Haruno Sakura cũng phải mất tới ba ngày mới xong.

Bạch nhãn

Là một thành viên của tộc Hyūga, Hinata sở hữu Byakugan, một loại nhãn thuật cho phép cô có thể nhìn thấy gần như 360 độ xung quanh mình. Hinata dùng Bạch Nhãn để hỗ trợ các thành viên khác của Đội 8 trong các hoạt động thường xuyên của đội như theo dấu hay khảo sát địa hình để dò tìm kẻ địch.

Nếu tập trung nhìn vào một hướng nhất định, Hinata có thể nhìn thấy các sự vật từ cách đó rất xa, trong The Last: Naruto the Movie, cô có thể nhìn xa tận 20km. Bạch Nhãn giúp cho các đòn tấn công của Hinata cực kì chính xác và cô có thể chia sẻ nhãn thuật này với những người khác.

Cô có thể dùng nó để phát hiện ra các ảo thuật và tìm kiếm kẻ dùng thuật ở gần đó. Trong anime, Bạch Nhãn của Hinata còn có chức năng phát hiện tia hồng ngoại và phóng đại các mục tiêu nhỏ xíu.

Thể thuật

Với Bạch Nhãn, Hinata có thể nhìn thấy 361 huyệt đạo trên hệ thống chakra chạy suốt cơ thể đối phương.  Sử dụng thế võ Nhu Quyền đặc trưng của tộc Hyūga, Hinata có thể trực tiếp tấn công hệ thống chakra của đối phương, hạn chế hoặc cắt hẳn dòng chảy chakra chỉ với một ngoại lực rất nhỏ. Kĩ năng này không chỉ giúp Hinata tấn công nội tạng của đối phương mà còn có tác dụng trị thương, ví như giúp bẻ lại xương bả vai bị trật khớp của Naruto.

Dẫu Hinata vẫn chưa lĩnh hội được nhiều tuyệt kĩ của gia tộc trong Phần I, song trong anime, cô đã tạo ra được một chiêu thức gần giống với Bát Quái Chưởng Hồi Thiên của Hyūga, nó bảo vệ cô một cách hữu hiệu và tấn công bất cứ thứ gì trong phạm vị tiếp cận của những tia chakra sắc nhọn phóng ra từ lòng bàn tay của Hinata. Sang đến Phần II thì cô đã luyện được nhiều tuyệt kĩ hơn.

Trong Cuộc Tấn Công của Pain, Hinata đã thi triển Nhu Bộ Song Sư Quyền, một tuyệt kĩ giúp hấp thụ chakra của đối phương mỗi khi đánh trúng. Cô đã tung ra Bát Quái Bất Chưởng để tấn công kẻ thù ngoài tầm với hay làm chệch hướng các đòn tấn công trong Đại Chiến Nhẫn Giả lần thứ IV, chiêu này còn mạnh hơn nữa khi được sử dụng chung với các tuyệt kĩ khác.

Hinata cũng đã học được Bát Quái Thập Lục Tứ Chưởng trong cuộc chiến, trong khi trước đó cô chỉ thi triển được một nửa chiêu thức này trong anime. Hinata ở tuổi trưởng thành nổi tiếng là người thông thạo Nhu Quyền, có thể hạ nốc ao đối thủ chỉ với một đòn tấn công trúng huyệt đạo.

Nhẫn thuật

Dẫu Hinata không sử dụng các loại nhẫn thuật bình thường, song trong Đại chiến Nhẫn Giả lần thứ IV, cô đã sử dụng hai nhẫn thuật tự nhiên là Hỏa Độn và Phong Độn. Trong anime, Hinata còn rất thành thạo các thuật trị thương, cô đã dùng Chưởng Tiên Thuật để chữa trị thương tích.

Các chỉ số

Databook Nhẫn Thuật Thể thuật Ảo thuật Trí tuệ Sức mạnh Tốc độ Chakra Ấn chú Tổng
Thứ nhất 1.5 2.5 1 2.5 1 2 1.5 2 14
Thứ hai 1.5 3 1 3 1 2 1.5 2 15
Thứ ba 3 3.5 2.5 3.5 1.5 2.5 2 3 21.5

Tiểu sử nhân vật: Hyūga Neji là ai?

Giới thiệu nhân vật

Hyūga Neji (tên tiếng Nhật: 日向ネジ) là thành viên thuộc Phân gia của gia tộc Hyūga, Làng Lá. Cậu từng bị ám ảnh với suy nghĩ số phận của mỗi người đã được quyết định ngay từ khi họ sinh ra, cho đến khi được Uzumaki Naruto giúp nhận ra mỗi người đều có quyền định đoạt cuộc sống của chính mình. Cậu quyết tâm trở nên mạnh hơn bất cứ ai để có thể tạo dựng tương lai mà cậu muốn với gia đình và bạn bè.

Tiểu Sử

Neji là con trai của Hyūga Hizashi, người đứng đầu Phân gia của tộc Hyūga. Khi Hinata, nữ tộc trưởng tương lai của Tông gia, tròn 3 tuổi, Neji đã bị bác mình là Hiashi đóng ấn chú lên trán. Ngay từ khi Neji còn bé, cha cậu đã sớm nhận ra tài năng thiên bẩm của con trai khi cậu nhanh chóng lĩnh hội được các tuyệt kĩ của Hyūga.

Điều này khiến ông thêm căm hận việc Neji bị đóng ấn chú và phải đời đời phục vụ Tông gia, trong khi con trai ông xứng đáng được hưởng những điều tốt đẹp hơn. Mỗi khi Hizashi vô thức để lộ sát khí vì uất hận, Hiashi thường kích hoạt ấn chú trên trán ông và trừng phạt ông trong đau đớn, việc này đã khiến tâm lý của Neji bị tổn thương.

Không lâu sau khi Neji bị đóng dấu, một Ninja Trưởng của Làng Mây đã viện cớ tới thăm Làng Lá và bắt cóc Hinata hòng moi được những bí mật về Byakugan (Bạch Nhãn). Hiashi đã kịp thời ngăn hắn lại và giết chết tên ninja, đặt nền móng cho một chuỗi các sự kiện trong “Biến cố Hyūga”.

Làng Mây bác bỏ những lời buộc tội tên Ninja Trưởng và nhấn mạnh việc làm của Hiashi là lời tuyên chiến từ Làng Lá. Cách duy nhất để hóa giải hận thù giữa hai làng là Hiashi phải sang làm con tin ở Làng Mây. Hiashi sẵn sàng hi sinh để bảo vệ Làng Lá, tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc dâng lên Làng Mây tuyệt kĩ Byakugan.

Do đó, em trai song sinh của Hiashi là Hizashi đã tình nguyện trở thành thế thân của ông, bởi ấn chú sẽ hóa giải Byakugan của Hizashi ngay khi ông chết, bất chấp sự phản đối của Hiashi. Neji lúc bấy giờ còn quá nhỏ để hiểu chuyện gì đang xảy ra, và trong nhiều năm sau đó, cậu luôn tin rằng cha mình đã bị ép phải chết vì Tông gia.

Neji từ đó sinh lòng thù hận toàn bộ Tông gia. Trong anime, cậu không từ cơ hội nào để có thể hãm hại Hinata. Cậu tin rằng số phận của một người đã được định đoạt ngay từ khi họ sinh ra và không gì có thể thay đổi điều đó.

Sau khi tốt nghiệp Học Viện với kết quả cao nhất lớp, cậu được phân vào Đội Guy và luôn hục hặc với Rock Lee do bất đồng quan điểm sống: Lee muốn trở thành một ninja bất chấp những giới hạn của bản thân, trong khi Neji tin rằng đó là điều không thể. Tenten khâm phục Neji, trong khi Lee thì quyết tâm đánh bại cậu trong một trận đấu để chứng mình điều Neji nói là sai. Thầy Might Guy khuyến khích điều này, tin rằng sự cạnh tranh và mong muốn hướng tới thành công sẽ đẩy cả hai lên một tầm cao mới.

Tính Cách

Neji hồi nhỏ là một cậu bé tốt bụng và hay cười. Tuy nhiên, sau cái chết của Hizashi, cậu trở nên nghiêm túc, lạnh lùng và già dặn hơn so với tuổi. Cậu tự nhận thức được tài năng thiên bẩm của bản thân và tỏ ra kiêu ngạo với những kẻ “yếu” hơn mình. Neji tin rằng khả năng của mình sẽ mãi bị hạn chế bởi bổn phận với Tông gia, nên càng căm ghét Tông gia hơn.

Neji sẵn sàng chia sẻ quan điểm sống của mình với người khác và chỉ ra những lúc họ lầm đường lạc lối, ví như cố gắng vượt qua giới hạn của bản thân hay tìm cách đánh bại cậu dù không đủ khả năng. Hinata nhận xét việc Neji cứ nhất nhất tin vào số phận chỉ khiến bản thân thêm đau khổ, rằng thực ra cậu cũng muốn chứng minh thực lực của mình với Tông gia nhưng lại e không đủ khả năng.

Naruto cũng bất đồng quan điểm với Neji, nói rằng niềm tin lệch lạc ấy thực ra đang kìm hãm cậu. Neji chế giễu nhận định của Naruto, nhưng sau đó đã phải suy ngẫm lại khi bị một “kẻ thất bại” như Naruto đánh bại “thần đồng” là mình trong một trận đấu.

Sau lần cọ sát với Naruto và biết được sự thật cha mình không phải bị ép chết, Neji hiểu rằng số phận là do mỗi cá nhân tự tạo dựng, cậu thầm biết ơn Naruto đã giải thoát cho mình khỏi “bóng tối”. Neji quyết tâm trở nên mạnh hơn để không bại trận trước bất cứ ai nữa.

Để làm được điều đó, cậu tham gia tập luyện với các đồng đội và ủng hộ ước mơ của họ. Cậu sau đó cũng tập với những thành viên của Tông gia và quan hệ giữa hai bên dần được hàn gắn. Neji trở lại bản tính lương thiện như xưa và theo thời gian, khát khao trở nên mạnh hơn của cậu không chỉ là vì bản thân, mà còn để bảo vệ bạn bè và gia đình. Cậu chấp nhận vai trò của mình với tư cách là một thành viên của Phân gia là phải bảo vệ Hinata và thậm chí đã hi sinh tính mạng để cứu cô.

Những chú chim thường được dùng để hình tượng hóa quan niệm sống và quá trình trưởng thành của Neji, ví dụ như khi cảm thấy bị ràng buộc bởi số phận và ấn chú trên trán, Neji ví bản thân như một con chim trong lồng; sau khi bị Naruto đánh bại, cậu thầm nói với cha về việc trên trời có rất nhiều chú chim đang tự do bay lượn.

Ngoại Hình

Neji sở hữu làn da trắng và mái tóc dài màu đen (màu nâu sẫm trong anime), thường được cột lỏng ở gần ngọn tóc. Đôi mắt cậu có màu trắng dã và không có đồng tử (trong anime thì hơi có ánh tím). Trong Phần I, Neji mặc một chiếc áo màu be bên ngoài một chiếc áo màu xanh nhạt và áo giáp lưới.

Cậu mặc quần soóc màu nâu sẫm, xăng đan shinobi xanh dương và cột băng quanh tay phải, ngực và chân phải. Cậu che ấn chú của Tông gia trên trán bằng chiếc băng bảo vệ trán màu đen, bên dưới là một dải băng đầu với hai quai buông thõng.

Trong Phần II, Neji chuyển sang mặc áo kiểu kimono với phần tay áo dài và rộng, quần dài cùng màu, một chiếc tạp dề màu xám tro cột quanh eo và chân đi xăng đan shinobi màu đen. Cậu cũng không còn đeo chiếc băng bảo vệ có quai nữa mà để tóc dài tự nhiên thõng xuống hai bên.

Mỗi khi đi làm nhiệm vụ, cậu thường khoác theo một chiếc túi rút dây màu nâu/đen trên vai. Trong Đại chiến Nhẫn giả lần thứ IV, cậu diện chiếc áo chống đạn đặc trưng màu xanh rêu của Làng Lá.

Khả Năng

Tài năng của Neji đã sớm bộc lộ ngay từ khi còn nhỏ, kể cả khi đem so với những tiêu chuẩn cao của tộc Hyūga. Hizashi tin rằng tài năng và tiềm năng phát triển của Neji rồi sẽ vượt qua tất cả các ninja Hyūga khác, và điều đó đã thành sự thật khi bước sang Phần II, lúc bấy giờ Neji đã là ninja tài giỏi nhất trong lịch sử nhà Hyūga.

Neji còn tốt nghiệp Học viện với thành tích tốt nhất lớp, khiến Rock Lee tin rằng Neji sẽ là đối thủ hàng đầu trong Bài thi tuyển Chūnin. Dẫu Neji không được thăng cấp trong lần kiểm tra này, song cậu là thành viên duy nhất của Konoha 11 trở thành jōnin trong timeskip, trong khi hầu hết mọi người còn chẳng lên được tới chūnin.

Cậu là một người điềm đạm ngay cả trong những tình thế hiểm nghèo, đây là tố chất khiến Hokage Đời thứ V tin rằng cậu là một nhà lãnh đạo giỏi. Neji có thể sử dụng Hỏa Độn, Thủy Độn và Mộc Độn.

Byakugan

Byakugan của Neji được đánh giá là mạnh hơn rất nhiều so với những thành viên khác của Hyūga. Nó cho phép cậu có thể nhìn được gần như 360o xung quanh mình, ngoại trừ điểm mù ở phía sau đốt sống ngực thứ ba. Cậu đã tập luyện chăm chỉ nhằm khắc phục yếu điểm này nhưng bất thành.

Do đó, cậu thường cẩn thận phóng chakra xung quanh khu vực này để bản thân có thể nhận biết bất cứ đón tấn công nào đang phóng tới và làm chậm chúng đủ lâu để có thể phản ứng.

Phạm vi Byakugan của Neji ngày một rộng dần theo thời gian: cậu chỉ có thể thấy được những thứ trong phạm vi 50m ở Phần I, nhưng sang tới phần II thì có thể thấy ở phạm vi cách mình 800m.

Thể thuật

Với Byakugan, Neji có thể nhìn thấy 361 huyệt đạo trên hệ thống chakra của một người. Bằng lối võ Nhu Quyền đặc trưng của Hyūga, cậu có thể trực tiếp tấn công hệ thống chakra của đối phương, thu hẹp hay cắt hẳn dòng chảy chakra của y chỉ với ngoại lực rất nhỏ.

Do hệ thống chakra có liên quan mật thiết tới rất nhiều bộ phận nội tạng quan trọng trong cơ thể, việc làm yếu hay gây tổn thương chí mạng cho kẻ địch là vô cùng đơn giản. Dẫu các đòn tấn công của Nhu Quyền được mặc định là rất khó chống đỡ, tốc độ, sự chuẩn xác và khả năng thể thuật của Neji khiến cậu là một đối thủ đáng gờm trong các trận cận chiến, buộc đối thủ phải giữ khoảng cách nếu muốn đấu với cậu.

Tuy nhiên, kể cả nếu kẻ địch có tấn công từ xa thì với Byakugan và phản xạ cực tốt, Neji cũng không dễ gì bị trúng đòn.

Là một thành viên của Phân Gia, Neji vốn bị cấm học những thuật mạnh nhất của tộc Hyūga. Nhưng với khả năng thiên bẩm, cậu vẫn có thể lĩnh hội chúng nhờ quan sát. Ví dụ như chiêu tấn công Bát Quái Lục Thập Tứ Chưởng, cho phép cậu tấn công liên tục vào các huyệt đạo của đối phương, trong anime, cậu có thể thi triển gấp đôi số lượng đòn đánh.

Neji còn học được thế phòng thủ Bát Quái Chưởng Hồi Thiên, cho phép cậu phóng chakra từ cơ thể và làm chệch hướng các đòn tấn công của kẻ thù. Hiashi đã rất ấn tượng trước khả năng tự học của Neji và phần nào tin rằng Neji đúng ra nên là người thừa kế của Tông Gia. Cuối Phần I, Hiashi đã bắt đầu huấn luyện Neji các tuyệt chiêu bí mật khác của môn phái.

Sang đến Phần II, Neji đã sử dụng được Bát Quái Không Chưởng để tấn công kẻ địch ngoài tầm với hoặc đẩy lùi đón tấn công của địch. Sức mạnh của chiêu này sẽ tăng lên khi được kết hợp với các tuyệt kĩ khác. Nếu bị khống chế và không thể dùng được Hồi Thiên thì cậu sẽ giải phóng chakra từ thể thuật để thoát thân.

Các chỉ số

Databook Nhẫn Thuật Thể thuật Ảo thuật Trí tuệ Sức mạnh Tốc độ Chakra Ấn chú Tổng
Thứ 1 2.5 3.5 2 2.5 2.5 3 2 3 21
Thứ 2 3.5 4.5 2 3 2.5 4 2.5 3 25
Thứ 3 4 4.5 2 3 2.5 4.5 3.5 3 27